What's new

[Tổng hợp] Giới thiệu chung về tỉnh Bến Tre

ttxtdlbentre

Phượt thủ
Bến Tre là tỉnh đồng bằng nằm cuối nguồn sông Cửu Long, tiếp giáp biển Đông, có 65 km đường bờ biển và được 4 con sông lớn là Tiền Giang, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên bồi đắp, chia lãnh thổ tỉnh ra thành 3 cù lao lớn l
+ Cù lao An Hoá (gồm 2 huyện Châu Thành, Bình Đại)
+ Cù lao Bảo (gồm Thành phố Bến Tre và 2 huyện Giồng Trôm, Ba Tri).
+ Cù lao Minh (gồm 4 huyện Chợ Lách, Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Thạnh Phú).

Bản đồ hành chính Bến Tre
Bến Tre là tỉnh thuộc miền tây Nam bộ, có hai mùa rõ rệt ( 6 tháng mưa và 6 tháng nắng ), mưa thuận gió hào, có hệ thống sông nước, kênh rạch chằng chịt tạo một tiềm năng du lịch sinh thái mang đậm tính Nam bộ, với những vườn cây ăn trái xum xuê, những rừng dừa bao phủ, đồng thời cũng là vùng đất phù sa bồi đắp, đem lại thuận lợi cho việc sản xuất các loại cây giống để cung cấp cho các tỉnh trong cả nước và các nước lân cận.

Cầu Rạch Miễu
Bến Tre có một hệ thống di tích lịch sử văn hóa khá đa dạng và phong phú, bên cạnh đó Bến Tre cũng là vùng đất sản sinh ra nhiều danh nhân sống mãi trong lịch sử như: Cụ Nguyễn Đình Chiểu, Cụ Phan Văn Trị, Cụ Phan Thanh Giản, Cụ Võ Trường Toản, Lãnh Binh Thăng, Lãnh Quang Quan (Tán Kế), Cụ Trương Vĩnh Ký, Trung tướng Đồng Văn Cống, Nữ Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, Phó HĐBT Huỳnh Tấn Phát…Ngoài ra, cùng với những yếu tố tự nhiên và nét văn hóa quê hương đã tạo cho vùng đất Bến tre một tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú làm cho du khách xa gần không thể bỏ qua.

Dừa là loại cây đặc trưng của Bến Tre
Bến Tre có điều kiện thuận tiện để phát triển du lịch sinh thái, bởi ở đó còn giữ được nét nguyên sơ của miệt vườn, giữ được môi trường sinh thái trong lành trong màu xanh của những vườn dừa, vườn cây trái rộng lớn.

TTXTDL Bến Tre
 

ttxtdlbentre

Phượt thủ
Ba Tri - Điểm đến du lịch "Văn hóa - Lịch sử và Sinh thái"

Huyện Ba Tri nằm phía đông cù lao Bảo, có chung ranh giới con sông Ba Lai. Ba Tri có hàng chục kilômét bờ biển, trong đó có gần 20 km bãi biển. Ba Tri không có nhiều danh lam thắng cảnh, nhưng là địa phương có nhiều di tích của các danh nhân nổi riếng, di tích lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và cả môi trường sinh thái rừng và biển. Vùng đất này không còn cây trâm bầu hoang dã, thay vào đó, trên bờ là vườn cây ăn trái (chuối, xoài, mít), dưới nước nuôi cá rô đồng, sặc rằn…
Từ trung tâm thành phố Bến Tre, du khách men theo tỉnh lộ 885 qua huyện Giồng Trôm rối đến huyện Ba Tri (36 km). Cũng giống như những nơi khác, du khách đến đây thường là gắn với các ngày lễ hội, nghỉ hè, ngày tết.
Du khách có thể chọn các điểm quan, du lịch tại Ba Tri như:
* Tràm chim Vàm Hồ:

Du khách đến khám phá sân chim Vàm Hồ theo hướng đường bộ từ thành phố Bến Tre hoặc từ bến tàu du lịch Tiền Giang theo đường sông hướng ra biển khoảng 3 tiếng đồng hồ, nếu thuận con nước sẽ đến Tràm Chim Vàm Hồ. Ở Vàm Hồ, ngoài vũ điệu ngoạn mục của hàng ngàn cánh cò, cánh vạc và âm điệu đặc trưng của các loài chim hoang dã khác, kết hợp với cây lá xào xạc như tiếng con chim cuốc gọi đàn giữa đêm hè tĩnh mịch, tiếng bìm bịp kêu như một điệp khúc gọi con nước lớn, tiếng chim vịt kêu chiều chiều và nhiều loài chim nhỏ sống trong các lùm cây gần vực nước như:cuốc ngực trắng, trích, cúm núm, chàng nghịch, bìm bịp, thằng chài, chẽo chẹt, bông lau, chèo bẻo đuôi cò, chim vịt…Hiện tại nơi đây chỉ mới được đầu tư cho du lịch, nên còn hoàn toàn vẻ hoang sơ, nhưng chính nét hoang sơ này đang và sẽ thu hút khách du lịch. Với khách du lịch, đến Tràm Chim bằng tàu thú vị hơn và có thể ngắm được chim về đậu trắng cả bìa rừng phía sông.

* Di tích lịch sử Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu:
Nguyễn Đình Chiểu, sau khi bị mù hai mắt, mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh ở Bình Vi, Gia Định. Khi quân Pháp chiếm thành Gia Định, ông chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Khi 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay giặc, Nguyễn Đình Chiểu rời Cần Giuộc về Ba Tri (1862). Tại đây, ông tiếp tục mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn chống Pháp cho đến cuối đời. Những tác phẩm có giá trị nhất của ông đều được viết từ nơi đây.

Khu di tích Nguyễn Đình Chiểu, có quy mô lớn hơn, gồm đền thờ, nhà lưu niệm tại xã An Đức, huyện Ba Tri, cách trung tâm thị trấn 2km về phía nam, nhằm tỏ lòng kính yêu một nhà thơ yêu nước lớn của dân tộc ở nửa sau thế kỷ XIX, vừa để phục vụ cho việc tham quan, nghiên cứu, giáo dục truyền thống yêu nước đối với các thế hệ hôm nay.

Đền thờ Nguyễn Đình Chiểu và ngày hội văn hóa hàng năm (01/7) tại xã An Đức
* Di tích kiến trúc nghệ thuật Đình Phú Lễ:
Căn cứ vào bia còn lưu lại tại đình cho biết niên đại xây đình vào năm Minh Mạng thứ 7(1826) trên cơ sở ngôi đình bằng gỗ lá, được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 5(1851). Thềm và móng được cấu trúc bằng đá xanh, bên trên xây gạch. Đình gồm tất cả 10 gian: 6 gian chính dính liền với mái và 4 gian phụ bố trí theo lối chữ “Đinh”. Đình chính gồm võ ca, viên đường, thính đường, chánh đường và hậu đường. Cột đình bằng gỗ lim, đường kính 40cm, mái lợp ngói vảy cá.
Do chiến tranh và thời gian, các công trình kiến trúc và các hiện vật bài trí bên trong (hương án, cuốn thư, hoành phi, bình phong, bao lam, đồ lễ bộ…) đã bị xuống cấp và hư hỏng nhiều. Tuy nhiên, những phần cơ bản về kiến trúc vẫn còn nguyên, không bị bom đạn tàn phá, đặc biệt những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ sơn son, thếp vàng còn lưu giữ được đến hôm nay, đã nói lên rằng đình Phú Lễ là đình có quy mô lớn và đẹp nhất của các làng quê ven biển Bến Tre. Nét đẹp của đình một phần còn do cảnh quan thiên nhiên bên ngoài. Khuôn viên của đình khá rộng, trải ra trên khu đất giồng khô ráo, với hàng trăm cây cổ thụ toả bóng. Hàng năm, hội cúng đình – còn gọi là lễ kỳ yên tổ chức vào rằm tháng 3(âl). Vì là làng lớn, đông dân, nên trước đây mỗi năm trong kỳ tế xuân đều có rước đoàn hát bội về biểu diễn nhiều đêm liền. Lễ tế thu là lễ Cầu bông.

Di tích kiến trúc nghệ thuật Đình Phú Lễ
* Di tích lịch sử Nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba cây da đôi:
Vào cuối tháng 4-1930, chi bộ ĐCSĐD đầu tiên của tỉnh Bến Tre được thành lập tại nhà ông Nguyễn Văn Cung. Chi bộ gồm 10 đảng viên, nguyên là hội viên của chi bộ VNTNCMĐCH trước đó, do đồng chí Nguyễn Văn Ân thay mặt liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre đứng ra thành lập. Đồng chí Nguyễn Văn Trí thay mặt Liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre công nhận chi bộ do đồng chí Nguyễn Văn An làm Bí thư. Chi bộ xã Tân Xuân, sau khi thành lập, đã tổ chức cuộc mít tinh quần chúng nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5 tại cây da đôi, sau đó biến thành cuộc biểu tình tuần hành, thu hút trên 200 người tham dự. Tại đây, sau ngày giải phóng (30-4-1975), Sở Văn hóa - Thông tin đã tổ chức dựng bia lưu niệm về sự kiện lịch sử này.

* Di tích Mộ nhà giáo Võ Trường Toản:
Võ Trường Toản người huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, là người học rộng tài cao, thông đạt kim cổ. Thời chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh, ông ở ẩn nơi quê nhà, mở trường dạy học, không tham gia vào chính trị, từ chối mọi điều ban phát.
Nhiều học trò của ông nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định (lúc bấy giờ được gọi là Gia Định tam gia thi), Ngô Tùng Châu, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Bá Phẩm… Ông mất ngày 27-7-1792. Khi ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay giặc Pháp, một số trí thức ở Gia Định không muốn người thầy học kính yêu của mình gởi xương cốt ở nơi bị giặc chiếm, nên đã tổ chức di dời hài cốt Võ Trường Toản về làng Bảo Thạnh, thuộc tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre), lúc bấy giờ còn là đất tự do. Văn bia dựng tại mộ do Phan Thanh Giản soạn thảo.
Hiện nay, khu mộ của ông bà và con gái được xây dựng theo dạng voi phục, nằm trong khuôn viên thoáng rộng, có cây che bóng mát, có nhà thờ mái cong, 2 tầng để thờ Võ Trường Toản và làm nơi tưởng niệm của khách thập phương.
* Các điểm tham quan khác:

Đền Thờ đốc binh Phan Ngọc Tòng – xã An Hiệp

Quan cảnh nhà thờ Cái Bông – xã An Phú Trung

Đường làng Phú Lễ - Phước Tuy còn trồng tre, trúc truyền thống để phục vụ nghề đan đát

Du khách có thể lưu trú qua đêm tại khách sạn hay nhà nghỉ ở thị trấn Ba Tri. Trên đường về thành phố Bến Tre du khách có thể mua quà lưu niệm hay đặc sản xứ dừa Bến Tre tại các đại lý ven tỉnh lộ 885 (địa phận huyện Giồng Trôm). Du khách có thể hòa mình hay tận tay tham gia vào quá trình sản xuất để khám phá, nghiên cứu và trải nghiệm làng nghề truyền thống làm “Bánh phồng” tại ngã Sơn Đốc – xã Hưng Nhượng – huyện Giồng Trôm hoặc làng nghề “Bánh tráng” xã Mỹ Thạnh – Giồng Trôm.

Nếu không ở đêm lại Ba Tri, du khách có thể chọn điểm nghỉ tại các cơ sở lưu trú tại thành phố Bến Tre. Du khách cùng khám phá nét đẹp lung linh huyền ảo về đêm của vùng sông nước xứ dừa và thưởng thức các món chè nước cốt dừa đặc sắc (tại trung tâm Tp Bến Tre) hay món ăn dân dã, đồng quê tại các điểm ẩm thực đường tránh quốc lộ 60 thuộc Phường Phú Tân, xã Sơn Đông và xã Bình Phú./.

TTXTDL Bến Tre
 

ttxtdlbentre

Phượt thủ
Khám phá du lịch đất biển Bình Đại - Bến Tre (Bài 1)

Bình Đại là một trong ba huyện ven biển của Bến Tre, nhưng không được nhiều thuận lợi như Ba Tri và Thạnh Phú. Bình Đại nằm trên Cù lao An Hoá, Tây Bắc giáp huyện Châu Thành; Đông Bắc giáp sông Mỹ Tho, ngăn cách với huyện Gò Công - tỉnh Tiền Giang; Tây Nam giáp sông Ba Lai, ngăn cách với các huyện Giồng Trôm, Ba Tri; Đông Nam là biển. So với các huyện khác trong tỉnh Bình Đại nằm lẻ loi trên một dãy cù lao và ở vị trí bốn bên là sông, biển bao bọc. Bình Đại có nhiều lợi thế về giao thông thủy cả giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đi bằng ô – tô đến trung tâm huyện Bình Đại 51km.

Theo sách sử ghi lại trận bão năm Thìn (1904) đã tàn phá nặng nề và vùng này, thường xuyên chịu sự xâm nhập của nước mặn tràn vào tận các xã ở giữa cù lao như Lộc Thuận, Vang Quới Đông, biến nơi đây thành khu vực hoang vu mà người dân gọi là đồng Bưng Lớn. Người dân nơi đây đã vô cùng gian nan vất vả, đổ ra biết bao nhiêu công sức để phục hồi lại sản xuất đắp bờ thay chua, rửa mặn, xây dựng lại ruộng vườn.
Là huyện vùng biển, nên người dân Bình Đại rất sành điệu với nghề đánh bắt hải sản và nuôi trồng thủy sản. Gắn liền với nghề này ở Bình Đại có nghề đóng ghe nổi tiếng của cánh thợ vùng Thới Thuận. Hay một nghề không thể không kể đến và có truyền thống lâu đời, có những nét độc đáo riêng như: nghề đánh cá mòi do một số ngư dân gốc Quảng Ngãi mang vào xã Thới Thuận hay nghề câu kiều. Từ cuối cuộc chiến tranh đến nay, cá mòi dần dần vắng bóng. Ngư dân chuyển sang nghề lưới sỉ, lưới cào. Một nghề có tính chất riêng biệt của vùng biển Bình Đại nữa là nghề đáy sông cầu, nghề này ở Bình Đại có rất sớm và phát triển mạnh, rồi lan sang các cửa biển ở Ba Tri và Trà Vinh. Đáy sông cầu được cắm thành hàng ngang giữa dòng nước chảy xiết nhưng không có những hàng rào chắn ngược dòng như đáy rạo. Tùy địa thế từng nơi, người ta đặt nhiều hay ít khâu đáy.


Người dân Bình Đại ngoài nghề truyền thống làm vườn, làm ruộng, làm muối, còn có nghề trồng giồng và nghề đánh cá biển, chế biến những sản phẩm của biển. Đặc sản “dưa hấu Cửa Đại” từng được bằng khen trong hội chợ đấu xảo canh nông Nam Kỳ do Pháp tổ chức vào đầu những năm ba mươi của thế kỷ này và được ca ngợi: “Tư bề Thừa Đức nội thôn, Đất trồng dưa hấu ngọt ngon quá chừng”. Ngoài ra, còn có bí đỏ Giồng Giếng (Thạnh Phước), mãng cầu Thới Thuận cũng là đặc sản có tiếng trong vùng.

Về du lịch, Bình Đại chưa có nhiều điểm đến, nhưng trên đường đến biển Thừa Đức, du khách ghé thăm di tích lịch sử cấp tỉnh Đình Tân Hưng và đền thờ Huỳnh Tấn Phát, tọa lạc tại xã Châu Hưng. Đình được xây dựng trên mảnh đất rộng 2.100m2 gồm 03 ngôi nhà ba gian, hai chái liền nhau theo kiểu “sắp đọi”, mái lợp ngói âm dương. Ngôi đình chính gồm: gian đầu là nhà võ ca, gian giữa là nơi chức sắc trong làng hội họp, gian thứ 3 thờ thần. Tất cả vì kèo, xuyên, trính, bao lam, thành vọng, hoành phi, câu đối, long trụ, khánh thờ đều được làm bằng các loại gỗ quý và được chạm khắc hoa văn phong phú như chim, hoa lan, hoa cúc, trúc, lưỡng long tranh châu, kỳ lân,…đều được sơn son thếp vàng.

Vào năm 1905, toàn thể nhân dân làng Tân Hưng thống nhất cùng đóng góp sức người, sức của xây dựng ngôi đình làng, nơi trung tâm thôn Tân Hưng (đình Tân Hưng ngày nay), phong ông Huỳnh Văn Thiệu làm Thành Hoàng bổn cảnh của làng và đưa vào thờ trong đình. Vì vào khoảng đầu thế kỷ XIX, vùng Bình Đại đã có cư dân đông đúc, làng mạc đã rải rác nhiều nơi nhưng một số nơi vẫn là vùng đất hoang vu đầy thú dữ. Ông Huỳnh Văn Thiệu đã đứng ra tập hợp cư dân ngoài thân tộc để khai phá đất đai và chống thú dữ. Dần dần đời sống dân cư ổn định, mọi người sống quây quần bên nhau thành thôn xóm. Qua đó, ông Huỳnh Văn Thiệu được người dân mến mộ, dân làng theo ông rất nhiều. Ông từ chối ra làm việc làng mà tập hợp nhân dân, xây dựng lực lượng theo phong trào khởi nghĩa của Trương Định nổi lên chống Pháp.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đình Tân Hưng là nơi tập trung những người yêu nước để học tập, bàn bạc kế họach thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chi bộ cơ sở. Trong suốt thời kỳ đấu tranh chính trị (1954 – 1959), đình là nơi tập hợp nhân dân để phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng bộ Châu Hưng nhằm gây dựng cơ sở và tổ chức lực lượng, phát động đấu tranh chính trị “chống chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, chống bắt lính, kêu gọi chồng, con, em về với nhân dân”, tổ chức mít tinh lên án bọn việt gian bán nước hại dân và trừng trị thích đáng bọn này.

Cạnh bên Đình Tân Hưng là đền thờ của cụ Huỳnh Tấn Phát, là cháu cố của Ông Huỳnh Văn Thiệu. Người ta biết đến kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát như một trí thức yêu nước lớn, một nhà họat động chính trị suốt đời theo đuổi lý tưởng cách mạng, gắn liền hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ông cũng là điển hình của thế hệ “xếp bút nghiên lên đường tranh đấu”(8-1945). Ông sinh ngày 15-2-1913 tại Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (trước thuộc Mỹ Tho) trong một gia đình địa chủ phá sản. Hồi nhỏ học Trường trung học Mỹ Tho, lớn lên Ông theo học ở Trường Petrus Ký - Sài Gòn để có thêm kiến thức làm được những điều lớn lao tốt đẹp.
Năm 1933, ông ra Hà Nội thi đỗ vào Trường Mỹ thuật Đông Dương. Để có tiền ăn học ông tham gia giảng dạy ở Trường Thăng Long - Hà Nội, viết báo La Lutte (Tranh Đấu), báo Le Travail (Lao Động) ở Bắc Kỳ. Thiết kế nhà dân để có thêm thu nhập.
Sau Hội nghị Geneve, năm 1954, ông được Đảng phân công hoạt động ở nội thành Sài Gòn. Để tạo thế công khai hợp pháp, ông làm việc tại văn phòng của kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thiện. Từ đấy ông lại có dịp sáng tác và thiết kế nhiều dự án. Đồ án thiết kế của ông tham dự cuộc thi thiết kế Nhà Văn hoá dự kiến xây dựng ở Khám Lớn - Sài Gòn đoạt Giải Nhì (không có Giải Nhất). Những năm kháng chiến chống Mỹ, với cương vị Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, bận rộn suốt ngày đêm, song ông vẫn không rời cây bút vẽ. Ông đã thiết kế và chỉ đạo xây dựng nhiều phòng họp, hội trường, nơi ăn chốn ở phục vụ cho các đại biểu về dự các hội nghị tại vùng căn cứ cách mạng. Đặc biệt là hội trường cho Đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, Hội trường đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam lần thứ nhất ở R (Lò Gò) đều bằng tre gỗ nứa lá, nhưng đã khéo xử lý rừng cây tán lá rậm rạp để có hội trường rộng rãi khang trang đẹp đẽ.
Trong những ngày cuối tháng 10-1995, được sự giúp đỡ của người thân cố kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát - đã phát hiện hơn 60 bản vẽ trên giấy pơluya đã ố vàng do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát - lúc bấy giờ là Chủ tịch Chính phủ lâm thời Cộng hoà miền Nam thiết kế về Thủ phủ Lộc Ninh (1972) - căn cứ Cách mạng của Chính phủ lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Tập bản vẽ này gồm thiết kế quy hoạch hàng chục công trình công cộng như nhà hành chính, Đài Liệt sĩ, Đền thờ Bác, khu giao tế, cung thiếu nhi, nhà văn hoá - thông tin, nhà hát ngoài trời, hội trường, khách sạn, cửa hàng bách hoá, chợ, trường học, bệnh viện, khu thể dục thể thao, vv… Những phác thảo này là bút tích duy nhất về sáng tác kiến trúc của kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát còn lưu lại, qua đó minh chứng thêm ông là người uyên bác, có đầu óc thiết kế về quy hoạch đô thị và công trình. Bố cục phân khu chức năng chặt chẽ, tổ chức không gian rất sinh động. Đồng thời, cũng cho thấy bút pháp thể hiện già dặn, là cây bút vẽ phối cảnh cừ khôi, độc đáo. Tập bản vẽ này còn cho thấy những ý tưởng lớn lao của ông về xây dựng một Thủ phủ của chính quyền cách mạng Miền Nam trong một giai đoạn lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc.
Còn tiếp ...

TTXTDL Bến Tre
 

ttxtdlbentre

Phượt thủ
Khám phá du lịch đất biển Bình Đại - Bến Tre (Bài 2)

Sau ngày Miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Xây dựng cơ bản Nhà nước, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam. Ông lại có dịp bình tâm hoạt động nghề kiến trúc sư. Ông làm Trưởng ban chỉ đạo Quy hoạch Thủ đô và chủ nhiệm đồ án thiết kế xây dựng thủ đô Hà Nội. Đồ án này đã vạch ra những nét cơ bản cho sự phát triển Thủ đô sau này. Ông đã chỉ đạo và góp ý kiến các dự án thiết kế quy hoạch các đô thị trong cả nước như thành phố Hồ Chí Minh, Phan Thiết, Nha Trang, Vũng Tàu - Côn Đảo, Tây Ninh, Lạng Sơn,… Ông đã trực tiếp sơ phác tìm ý cho Nhà hát Hoà Bình, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh, đồng tác giả với kiến trúc sư Nguyễn Thành Thế về công trình này. Ông đã trực tiếp chỉ đạo và góp nhiều ý kiến phác thảo kiến trúc cho các công trình ở Thủ đô như Sân bay Quốc tế Nội Bài, Cung Thiếu nhi Trung ương, Trường đại học Sư phạm Hà Nội, Bảo tàng Hồ Chí Minh… Với cương vị Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam (1983-1989), ông đã làm Chủ tịch Hội đồng chấm thi đồ án kiến trúc dự thi Quốc tế, ông đã góp ý các đồ án nâng cao hơn về ý tưởng, giải pháp kiến trúc cũng như trong việc xét chọn những đồ án chất lượng cao để dự giải như đồ án:“Nhà ở làng hoa Hà Nội”, “Không gian Alibaba”, “Tồn tại hay không tồn tại”,…Kết quả là cuối thập niên 80 của thế kỷ XX kiến trúc sư trẻ nước ta có nhiều đồ án đoạt Giải Nhất trong các cuộc thi kiến trúc Quốc tế.

Tháng 4 năm 1989, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát tuổi đã cao, sức đã yếu, nhưng toàn thể Đại hội Kiến trúc sư Việt Nam lần thứ IV vẫn bầu ông làm Chủ tịch Danh dự.

Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát được bầu vào Đại biểu Quốc hội các khoá 1,2,3,6,7,8. Nhà nước đã thưởng ông nhiều Huân huy chương. Năm 1996, cố kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát có vinh dự được Chủ tịch nước trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật, đợt I, với các tác phẩm: Quy hoạch thủ đô Hà Nội thiết kế năm 1981; chỉ đạo trực tiếp tham gia thiết kế các công trình: Sân bay Quốc tế Nội Bài, Trường đại học Sư phạm Hà Nội, Cung Thiếu nhi Trung ương, thiết kế năm 1978; Bảo tàng Hồ Chí Minh, thiết kế năm 1979-1985. Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát là nhà chính trị lớn - nhà văn hoá lớn, xứng đáng là một trí thức cách mạng thời đại Hồ Chí Minh.

Trên vùng đất huyện Bình Đại còn có công trình cống đập Ba Lai tại xã Thạnh Trị và một phần của xã Bình Thới. Cống đập Ba Lai là một hạng mục trong hệ thống thuỷ lợi, có các công trình lớn đồng bộ, khép kín các công trình đê - cống ven sông Cửa Đại, sông Hàm Luông. Công trình với mục đích tưới tiêu, giữ ngọt, ngăn mặn cho khoảng 90.000ha đất nông nghiệp, hệ thống này sẽ phân rõ vùng mặn, vùng ngọt và sẽ thuận lợi bố trí sản xuất ở vùng mặn (nuôi thuỷ sản), vùng ngọt sẽ đưa sản xuất lúa từ 2 vụ lên 3 vụ, đồng thời tạo điều kiện phát triển kinh tế vườn. Sông Ba Lai sẽ trở thành hồ chứa nước ngọt kết hợp với sản xuất nông nghiệp lẫn sinh hoạt cho các trung tâm dân cư các huyện: Bình Đại, Ba Tri, Giồng Trôm, Châu Thành và thành phố Bến Tre... Nói chung công trình là tiền đề thuận lợi cho sự phát triển của Bến Tre như chương trình phát triển kinh tế vườn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tập trung thâm canh vườn dừa, triển khai dự án trồng xen ca cao, dự án phát triển bưởi da xanh, măng cụt, xây dựng lúa cao sản xuất khẩu, thúc đẩy chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản bền vững (bên ngoài dự án Ba Lai)...

Đến với Bình Đại, du khách khám phá bãi biển Thừa Đức, nơi đây vào các dịp lễ hàng ngàn du khách từ các nơi đổ về để vui chơi, tắm biển, thưởng thức các món ăn đặc sản biển như: Cá, mực, tôm, cua, nghêu, sò... và độc đáo là món bánh xèo xứ biển.



Hầu hết các địa phương có biển đều có tục thờ cá Ông và Lễ hội nghinh Ông là lễ hội phổ biến của các làng ven biển của Việt Nam, trong đó có Bến Tre. Hàng năm, vào các ngày 16/6 âm lịch tại các đình, đền hay miếu của các xã thuộc huyện Bình Đại đều mở lễ hội này. Trong ngày hội tất cả tàu thuyền đánh cá đều về tập trung neo đậu để tế lễ, vui chơi và ăn uống. Lễ hội Nghinh Ông lớn nhất hàng năm tổ chức ở lăng Ông xã Bình Thắng huyện Bình Đại. Lễ gồm ba phần: túc yết, nghinh ông, tế tiền hiền và hậu hiền, lễ chánh tế và xây chầu đại bội. Vào lễ, các thuyền đánh cá đều chăng đèn, kết hoa rực rỡ. Ở đầu mũi thuyền, chủ nhân bày mâm cúng gồm trái cây, xôi thịt, thường là cặp vịt luộc, chiếc đầu heo cùng với hương hoa Lễ hội nghinh ông ở xã Bình Thắng tuy ra đời muộn màng hơn so với các địa phương khác trong tỉnh, nhưng lễ hội không chỉ thể hiện đầy đủ tính vốn có của lễ hội dân gian, mà còn phản ánh sinh động cả nội dung và hình thức của nghề hạ bạc trong hệ thống tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Đến Bình Đại du khách còn khám phá, tham quan mô hình nuôi trồng thủy sản (nuôi tôm xú công nghệp hay quảng canh, nuôi sò huyết, cua...).
Ngoài các sản phẩm về biển thông thường như cá, tôm, cua, mực, nghêu, điều thú vị vùng này còn có rừng ngập mặn, có nhiều cây chà là mọc, nên cũng có lắm đuông chà là. Người dân nơi đây đã khai thác, chế biến làm món nhâm nhi đặc biệt trong các quán nhậu. Ở đây, còn có đặc sản con rươi dùng để làm nước nắm rất độc đáo.

Du khách có thể chọn nghỉ qua đêm tại vùng đất biển yên ả - tại thị trấn Bình Đại và thưởng thức đặc sản biển thỏa thích, cũng như mua sắm quà lưu niệm nhân chuyến đi du lịch tại vùng đất biển của xứ dừa Bến Tre./.

TTXTDL Bến Tre
 

ttxtdlbentre

Phượt thủ
Điểm đến du lịch Sinh thái - Miệt vườn hấp dẫn: Châu Thành

Cầu Rạch Miễu thân thương đã nối đôi bờ Bến Tre - Tiền Giang, tạo điều kiện thuận lợi cho du khách đến xứ dừa Bến Tre “qua sông không còn phải lụy phà”.

Điểm đặt chân đầu tiên của du khách đến Bến Tre là huyện Châu Thành. Châu Thành nằm ở đầu cù lao Bảo và cù lao An Hóa, được thiên nhiên ưu đãi nhiều cảnh quan thiên nhiên, đa dạng với những bờ sông hữu tình, với những hàng dừa, vườn cây trái xanh thẳm. Châu Thành có những tiềm năng như: đất đai, nước tưới, kinh tế vườn, nằm trên trục lộ giao thông thủy bộ, nơi cửa ngõ Bến Tre. Người dân nơi đây cũng có nhiều kinh nghiệm sản xuất, vì thế mà Châu Thành có những ưu thế về kinh tế - xã hội so với một số huyện khác của Bến Tre.

Châu Thành không có điều kiện vươn ra biển cả để đánh bắt hải sản như Bình Đại, Ba Tri, hay trồng rừng, nuôi tôm cá nước mặn và lợ hay nuôi nghêu như Thạnh Phú, Bình Đại. Nhưng Châu Thành đã tận dụng cảnh quan miệt vườn quanh năm xanh tươi với mùa nào trái cây ấy và cảnh sông nước hữu tình, mà phát triển các điểm du lịch sinh thái – miệt vườn khá hấp dẫn ở các xã Tân Phú, Thị trấn và các xã ven sông Tiền: Tân Thạch, Phú Túc, Tiên Thủy, Quới Sơn, An Khánh, cùng các cù lao trên sông như: Cồn Phụng, Cồn Qui, Cồn Tiên...

Đến với Châu Thành du khách không chỉ được ngắm nhìn kung cảnh làng quê thanh bình, mà còn lênh đênh thưởng ngoạn trên dòng sông Tiền, du khách sẽ nhìn thấy những hàng bần ven sông, rạch với những bông bần trắng tím là đà mặt nước, đung đưa trong gió. Những rặng dừa nước xanh um chạy dọc triền sông đến hút mắt, lả lơi trong sóng.

Những mái nhà lá đơn sơ thấp thoáng trong những vườn cây nặng trĩu trái. Những cô thôn nữ mặc áo bà ba, với những chiếc xuồng chèo chở du khách khám phá những cảnh đẹp trữ tình hay những điểm du lịch nép mình trong những bờ sông, rạch bát ngát màu xanh của vùng sông nước.

Điểm đến đầu tiên ở Châu Thành là Cồn Phụng hay còn gọi là cồn Đạo Dừa thuộc xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, ở cửa ngõ Bến Tre cách trung tâm thành phố Bến Tre 12km. Khu du lịch này nằm trên một cù lao nổi giữa sông Tiền, được hình thành bởi phù sa. Đây là công trình kiến trúc độc đáo của nơi đã từng là thánh địa của đạo Dừa, với một số di tích như: Sân rồng, tòa tháp…

Đến đây, du khách sẽ càng ngỡ ngàng thích thú tham quan nơi sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, những đồ gia dụng bằng vật liệu Dừa. Nhìn các mặt hàng ở đây rất đa dạng, nhiều chủng loại để đáp ứng các nhu cầu khách du lịch và có thể bán ra các tỉnh lân cận.
Tại các điểm du lịch của Châu Thành du khách còn khám phá việc nuôi ong lấy mật từ hoa nhãn, sản phẩm này được cũng trưng bày bán tại chỗ cho du khách và phân phối cho các tỉnh lân cận. Và vô cùng thú vị khi du khách tham gia làm kẹo dừa, tráng bánh hay một công đoạn làm hàng thủ công mỹ nghệ ….

Ngoài điểm du lịch Cồn Phụng, du khách còn khám phá điểm đến tại Cồn Qui (xã Quới Sơn, xã Tân Thạch), Cồn Tiên (xã Tiên Long), du lịch sinh thái – miệt vườn Tân Phú; Đồng Quê, Quới An (xã Qưới Sơn); Hảo Ái, Phong Phú, Thảo Nhi, Diễm Phượng, Hồng Vân, Quê Dừa, Năm Thành…(xã Tân Thạch); du lịch Vườn dâu, An Khánh 2 (xã An Khánh)…

Châu Thành cũng rất phong phú và đa dạng các loại trái cây thơm ngon, du khách tham quan những điểm du lịch sinh thái - miệt vườn tại đây có thể vừa ăn trái cây mới hái, hớp ngụm trà pha mật ong ngọt lịm (mật ong khai thác tại vườn), đi xe ngựa, ngắm đom đóm về đêm, nghe đàn ca tài tử và có thể cùng tham gia giao lưu với loại hình nghệ thuật này… Những sản phẩm này do những người dân chất phác, hiền lành, hiếu khách của xứ sở sông nước miệt vườn nơi đây sáng tạo làm ra…

Các điểm phục vụ ẩm thực tại các điểm du lịch nơi đây được cất bằng tre lá, nhưng đầy đủ tiện nghi với những món ăn đặc sản, dân dã đặc sắc như: Cá bông lau, cá ngát nấu canh chua bần với rau muống đồng, bông súng, rau cải trời hay bông so đũa; cá điêu hồng hấp nấm mối với đọt bí hay bông bí; cá rô, cá kèo, cá lóc, cá trê, cá lòng tong kho tộ hoặc nồi đất hay tép rang dừa. Điều thú vị nhất là khoảng trước và sau tết Đoan ngọ (mùng 5/5âl), vùng đất này sản sinh sản vật thiên nhiên độc đáo và du khách có thể thưởng thức đó là “nấm mối” xào nước cốt dừa lá cách hay xào muối ớt; nấm mối quấn lá cách nướng; lẩu nấm mối hay canh mướp, canh rau vườn nấu với mấm mối… Với tất cả các yếu tố đó, lòng nhiệt tình, thân thiện, hiếu khách, các điểm du lịch sinh thái – miệt vườn Châu Thành sẽ làm du khách ấn tượng, hài lòng.
Đến Châu Thành, du khách không chỉ được thưởng thức những cảnh đẹp thiên nhiên sẵn có, mà du khách còn được thỏa sức đắm mình vào không gian kiến trúc nghệ thuật Đình Tân Thạch và kiến trúc cổ Chùa Hội Tôn tọa lạc ở xã Quới Sơn.

Ngoài ra, du khách còn tham quan cơ sở thêu Khánh Quyên (xã Tân Thạch) hay làng nghề đệt chiếu, dệt thảm sơ dừa (xã An Hiệp).

Những năm gần đây, Châu Thành còn có Khu du lịch Forever Green Resort (còn gọi tắt Resort bên bờ sông Tiền), do Công ty TNHH Thương mại Lô Hội đầu tư xây dựng có diện tích rộng 21 ha, tọa lạc tại ấp Phú Khương, xã Phú Túc. Đây là khu du lịch sinh thái có sức đầu tư lớn và bài bản nhất tại Bến Tre từ trước đến nay. Nằm sát sông Tiền, không gian tại đây êm ả, hiền hòa. Đến với Forever Green Resort, chúng ta có thể đi bằng 3 ngã: Từ ngã tư Tuần Đậu (Hữu Định) đi vào xã Tam Phước, ngang qua xã Tường Đa, đến xã Thành Triệu, rẽ về hướng xã Phú Túc (dài khoảng 8 km). Từ thành phố Bến Tre đến khu du lịch này 18 km. Một tuyến đường khác là đường từ xã An Khánh xuyên qua Phú Túc – Tân Phú (huyện lộ này đang làm và dự kiến hoàn thành vào năm 2011). Xe du lịch 12-20 chỗ ngồi vẫn có thể chạy một mạch, xuyên qua những vườn dừa xanh mát để đến khu du lịch. Khu du lịch được xây dựng bên bờ sông Tiền, nên đường thủy cũng rất thuận tiện.

Sau khi du khách khám phá, trải nghiệm các điểm du lịch sinh thái – miệt vườn, du khách có thể lưu trú qua đêm tại khách sạn hay nhà nghỉ ở thị trấn Châu Thành và xã An Khánh; mua quà lưu niệm đặc sản xứ dừa tại các đại lý ven Quốc lộ 60 (đoạn từ cầu Ba Lai đến trạm thu phí cầu Rạch Miễu). Hoặc du khách có thể lưu trú tại thành phố Bến Tre, tại đây du khách hòa mình khám phá nét đẹp lung linh huyền ảo về đêm của vùng sông nước xứ dừa; thưởng thức các món chè nước cốt dừa đặc sắc hay món ăn dân dã, đồng quê tại các điểm ẩm thực hai bên đường tránh quốc lộ 60 thuộc Phường Phú Tân, xã Sơn Đông và xã Bình Phú.
Nếu du khách muốn trở về với thiên nhiên, lắng mình với “tấu khúc đồng quê” của vùng du lịch sinh thái – miệt vườn, du khách có thể chọn điểm nghỉ tại nhà dân ở Châu Thành./.

TTXTDL Bến Tre
 

ttxtdlbentre

Phượt thủ
Điểm đến du lịch hấp dẫn – “Vương quốc trái cây và hoa kiểng” – Chợ Lách


Khi nghe tên “Chợ Lách” có người liên tưởng ngay tới một cái chợ nằm giữa một vùng lau lách. Về giả thuyết cũng là một cách để giải thích về cái tên của vùng đất này. Trước đây, muốn đến Chợ Lách phải qua phà. Kể từ ngày 24/4/2010 cầu Hàm Luông đã khánh thành nối đôi bờ thành phố Bến Tre với cù lao Minh, đây là điều kiện vô cùng thuận lợi cho du khách tìm đến thưởng ngoạn vùng đất sinh thái – miệt vườn nổi tiếng cả nước về “vườn cây trái và hoa kiểng”. Từ thành phố Bến Tre đi bằng đường bộ đến trung tâm huyện Chợ Lách khoảng 39 km.

Huyện Chợ Lách nằm trên phần đất hẹp nhất ở phía trên cùng của vùng đất cù lao Minh, có chiều dài 22,5 km và chiều ngang giới hạn bởi hai bờ của con sông Cổ Chiên và Hàm Luông, nơi hẹp nhất chỉ có 2 km. Diện tích Chợ Lách còn bị chia cắt bởi một hệ thống kênh rạch chằng chịt. Hiện trạng này ít nhiều cũng gây trở ngại cho việc đi lại bằng đường bộ, nhưng lại rất tiện lợi về đường thủy cũng như về mặt tưới tiêu.

Chợ Lách có diện tích thuộc hàng nhỏ nhất so với các huyện khác của tỉnh, mật độ dân số lại cao. Nhưng Chợ Lách có lợi thế riêng mà các huyện khác trong tỉnh không có được. Nằm giữa hai dòng sông lớn Cổ Chiên và Hàm Luông, đất đai Chợ Lách được sự bồi tụ phù sa của hai con sông lớn này, lại được tưới tắm bởi một hệ thống kênh rạch lớn, nhỏ chạy ngang dọc. Hàng năm, vào mùa nước lên, một số vùng thấp bị ngập độ vài tháng và khi nước rút để lại trên mặt đất trồng một lớp phù sa như một loại phân bón mới.
Phải nói rằng sự ưu đãi của thiên nhiên làm vùng đất này có nước ngọt quanh năm. Chỉ cần một máy bơm nhỏ đôi ba sức ngựa là người nông dân có thể đưa nước ngọt từ dưới sông vào ruộng, vườn của mình theo ý muôn không mấy khó khăn. Cho nên đất đai ở đây gần như không bị thất bát do hạn hán như ở những nơi khác. Đây là địa thế thuận lợi cho việc phát triển cây trồng tươi tốt quanh năm. Đất tốt, nước ngọt quanh năm, khí hậu điều hòa là những yếu tố thiên nhiên thuận lợi rất cơ bản giúp cho con người ở đây tạo ra một vùng cây trái đặc sản thuộc loại trù phú nhất của Nam Bộ và trở thành một vùng chuyên canh cây ăn trái và cây giống nổi tiếng cả nước. Chợ Lách còn rất thuận lợi cho giao thông đường thủy lẫn đường bộ, nên từ ngàn xưa đã thu hút người dân hội tụ về đây an cư lạc nghiệp, tạo dựng nên những vườn cây xanh trái ngọt bốn mùa như hôm nay. Đây cũng là yếu tố để lý giải vì sao huyện Chợ Lách “đất hẹp người đông”.

Với những yếu tố vô cùng thuận lợi, nhà vườn và người dân Chợ Lách đã thực sự trở thành những người nông dân của thời đại mới, luôn chịu khó học hỏi, đầu tư những giống cây tốt nhất, trồng đủ các loại trái cây đặc trưng, ngon nhất của vùng đất Nam bộ để cung cấp cho thị trường như: Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bòn bon, dâu, nhãn..., làm nên danh tiếng cho vùng đất này.
Đến nơi đây vào mùa trái cây, du khách không khỏi ngỡ ngàng trước vườn chôm chôm chín đỏ, những vườn dâu xanh, măng cụt, bòn bon với những buồng trái xây quanh từ gốc đến ngọn, trông thật thích mắt. Những liếp cam, liếp quýt, vườn bưởi, vườn nhãn sai oằn trái che khuất cả lối đi. Trái cây vùng này còn có cả mận, cam, quýt, xoài, chuối, cóc, ổi, mãng cầu xiêm, mít, vú sữa, sapôchê, lêkima, táo, đu đủ…. Phải nói, thiên nhiên ban tặng vùng đất này quá tuyệt, với đa dạng trái cây mùa nào trái ấy, loại trái nào cũng nhiều, cũng ngon, cũng được mọi người ưa chuộng.

Du khách đến Chợ Lách không những được thưởng thức những loại trái cây ngon nổi tiếng, mà còn tận mắt chứng kiến nghề độc đáo nhất: nghề chiết cây, ghép cành, lai tạo, nhân giống cây ăn quả cùng nghề trồng cây và hoa kiểng. Những sản phẩm này, đã cung cấp cho nhân dân trong tỉnh và toàn quốc với hàng chục triệu cây giống các loại, cũng như các loại cây kiểng, để làm giàu và làm đẹp thêm cuộc sống. Những năm gần đây, các loài cây giống, hoa kiểng đã xuất khẩu ra nhiều nước như Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản.

Với tài nghệ và kinh nghiệm cha truyền con nối, thông qua những cây tắc (quất) kiểng trĩu quả, hay những con long, lân hoặc hươu, nai…, được tạo dáng bằng cành và lá cây giống với vẻ đẹp độc đáo, thanh thoát, ta càng cảm phục tài năng và bàn tay khéo léo của con người ở đây. Nghề làm vườn cây trái và sản xuất cây giống, cây hoa kiểng đã đem lại cho người dân ở đây một đời sống sung túc, nhà cửa khang trang, tiện nghi đầy đủ, đường sá trong làng sạch và rộng. Nghề này tập trung chủ yếu ở các xã Vĩnh Thành, Vĩnh Hòa, Phú Sơn, Long Thới…So với các huyện khác trong tỉnh, thì Chợ Lách là nơi ít bị chiến tranh tàn phá nhất, do đó có điều kiện thuận lợi để nhanh chóng khắc phục những hậu quả chiến tranh, sớm đi vào xây dựng và tổ chức ổn định, phát triển quê hương sau ngày giải phóng.

Vùng đất Chợ Lách, còn có nhà bia của học giả Trương Vĩnh Ký. Ông sinh tại ấp Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoàng An, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre). Nơi đây là đất tổ, là trung tâm của xứ sở vương quốc hoa kiểng và cây trái nổi tiềng cả nước. Trương Vĩnh Ký đọc và nói giỏi 15 ngôn ngữ phương Tây và 11 ngôn ngữ phương Đông, được giới học thuật xếp vào danh sách 18 nhà bác học đương thời của thế giới. Ông đã để lại 118 tác phẩm lớn nhỏ, kể cả tiếng Việt, tiếng Pháp và tiếng Hán, không kể những di cảo dang dở. Điều đó chứng tỏ ông có một sức làm việc không biết mệt mỏi và một tri thức uyên bác, bách khoa. Toàn bộ những công trình biên soạn của Ông là kết quả của 40 năm miệt mài lao động và Ông đã có những đóng góp nhất định cho một số ngành khoa học đương thời, nhất là với khoa ngôn ngữ học và khoa lịch sử. Riêng đối với văn học dân tộc và văn học Nam Bộ nói riêng, Ông đã góp một phần có ý nghĩa trong việc sưu tầm, biên soạn, phiên âm với một ý thức trân trọng một loạt tác phẩm như:Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Đại Nam quốc sử diễn ca, Hịch Quản Định, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Trung nghĩa ca, Gia Định thất thủ vịnh, Chuyện đời xưa nhón lấy những chuyện hay và có ích, Chuyện khôi hài...

Về tín ngưỡng, Chợ Lách là nơi có nhiều tôn giáo: Đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo. Chiếm số lượng đông nhất là đồng bào theo đạo Thiên Chúa. Hầu hết các xã trong huyện đều có nhà thờ. Họ đạo Cái Mơn (xã Vĩnh Thành) là họ đạo lâu đời nhất, được thành lập từ tháng 2-1872, là một trong 10 trung tâm lớn và lâu đời của đạo Thiên Chúa ở nước ta. Nơi đây, ngoài một nhà thờ lớn còn có nhà dưỡng lão, trường học, trại mồ côi và nhà nguyện cho các nữ tu sĩ. Họ đạo Cái Nhum (xã Long Thới) cũng là một họ đạo lớn, ngoài nhà thờ, ở đây còn có một chủng viện. Đồng bào theo đạo Thiên Chúa ở hai nơi này chiếm từ 80 - 90 % dân số.
Tại Chợ Lách hàng năm còn diễn ra “Ngày hội cây - trái ngon, an toàn và sản phẩm nông nghiệp” vào dịp tết Đoan ngọ (mùng 5/5 âl). Ngày hội này được phát triển từ ngày hội dân gian và tổ chức tại vùng cây trái, hoa kiểng Chợ Lách như một hoạt động có ý nghĩa thiết thực để ghi nhớ công ơn những người đi trước, đồng thời tạo cơ hội giao lưu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm trồng cây ăn trái, cây giống, hoa kiểng của nhà nông trong tỉnh. Song song đó, cũng nhằm để tôn vinh các nhà vườn giỏi, giới thiệu dịch vụ lao động kỹ thuật, quảng bá các thương hiệu trái cây của Chợ Lách. Trong ngày hội này, những người nông dân phấn khởi giới thiệu những sản phẩm mà họ đã chăm chút tách, ghép để có những giống cây chuẩn, những trái cây ngon. Hầu hết nhà vườn có trái ngon, trái to và sạch đều dự thi trái ngon an toàn hoặc đấu xảo, mong đoạt được danh hiệu cao nhất. Du khách đến Chợ Lách dịp này sẽ thưởng thức được đúng trái ngon mang từ nhà vườn ra mỗi ngày hoặc có thể vào vườn tự tay hái trái với sự hướng dẫn của nhà vườn. Đây cũng là dịp để giới thiệu quảng bá du lịch sinh thái vườn gắn với ẩm thực đặc sản của địa phương. Nhiều năm qua, ngày hội này không những được dân địa phương hào hứng tham gia, mà còn tạo thành sự kiện du lịch độc đáo thu hút khách thập phương đến rất đông.


Còn tiếp...

TTXTDL Bến Tre
 

ttxtdlbentre

Phượt thủ
Điểm đến du lịch hấp dẫn – “Vương quốc trái cây và hoa kiểng”: Chợ Lách (Bài 2)


Điều mà du khách khó có thể bỏ qua đó là: Theo dòng Cổ Chiên, du khách đến tham quan cồn Phú Đa ăn đặc sản ốc gạo vùng sông nước. Theo các bậc cao niên, con ốc gạo đã có mặt từ khi cồn Phú Đa vừa ló dạng và theo năm tháng, chứng kiến con người bên này sông sang khai thác cồn, gặp nước ròng, phải lội sau những buổi chiều về. Con ốc “được làm bạn” với con người từ thuở hàn vi và thưa thớt ấy. Ốc không chỉ là bạn mỗi khi con người lỡ bước sang sông. Ốc còn góp mặt với đời bằng nhiều món ăn thú vị, độc đáo. Nếu đi đường bộ, từ thị trấn Chợ Lách đến UBND xã Vĩnh Bình 6 km và rẽ trái đi tiếp khoảng hơn một cây số là đến Cồn Phú Đa. Nếu đi đường sông, nhìn lên bản đồ, từ Tiền Giang qua thì theo sông Tiền, lên khúc uốn sông Hàm Luông, quẹo vào vàm Kênh Lách, đến trung tâm huyện rẽ về Vĩnh Long, chạy một đoạn gặp kênh Bổn Sồ là tới nơi. Từ Vĩnh Long sang có dễ hơn, theo sông Cổ Chiên, qua phà Đình Khao chạy thẳng khoảng 10 cây số sẽ đến cồn Phú Đa. Nơi đây hiện vẫn còn nguyên vẹn nét “hoang sơ” của miệt vườn sông nước. Dân gian có câu: “Ốc gạo Phú Đa vừa ngon vừa béo - Người Phú Đa vừa khéo lại vừa khôn”.

Về Chợ Lách du khách có thể chọn tham quan tại các vườn trái cây hay xuống xuồng ra sông Cổ Chiên để xem hoặc tham gia cùng người dân nơi đây khai thác ốc gạo hoặc cào hến. Hến vốn sinh ra từ rạch, lớn lên một tí là ra sông, khi “đủ lông, đủ cánh” là “leo lên cồn”. Lúc hến sống được bên cồn là rất mập, trắng lại tròn, nên rất ngon. Qua kinh nghiệm, nhưng chưa thấy ai lý giải có sức thuyết phục là vì sao con hến ở Chợ Lách ruột trắng, ăn rất ngon và giòn. Thực tế hến ở các cồn khác của Chợ Lách cũng có nhiều, nhưng không hiểu sao không ngon bằng hến ở cồn Phú Đa. Bởi vậy, dân trong tỉnh đến cồn Phú Đa gọi hến là “con nghêu nước ngọt” không phải là quá đáng. Điều mà du khách khó quên thưởng thức ở đây là những món ăn dân dã nhưng đặc sắc như: Bánh xèo hến Phú Đa, gỏi cuốn hến hay ốc gạo, gà luộc chấm muối ớt hay ăn cơm cá kho tộ, cá chiên, canh chua, …
Ngoài việc chiêm ngưỡng các loại cây kiểng, khám phá các loại cây ăn trái, thưởng thức các loại trái cây đặc sắc, nổi tiếng, du khách sẽ cảm thấy thiếu vắng nếu không được thưởng thức những món ăn được con người ở đây chế biến từ hương đồng cỏ nội thành những món ăn đặc sắc như: Về vùng Hưng Khánh Trung B có món súp trân châu, gỏi măng cụt, thỏ giỡn trăng, bò tắm nắng. Hay du khách tùy thích mà chọn món: Súp hến cua, hoành thánh ốc, cơm hến gói lá sen ăn với cá điêu hồng tứ bửu. Lên Sơn Định sẽ có gỏi bưởi, gà ấp trứng vàng, ngư trầm bãi cỏ, hoàng long ẩn náo trong lá. Ngoài ra, còn có tôm chiên xù, ốc hấp tôm, gỏi trái cóc, cá lội ao vườn, công múa ngày hội, … Phải công nhận rằng ở Chợ Lách không những mùa nào trái ấy, mà về “văn hóa ẩm thực” cũng mùa nào thức ăn nấy, du khách mặc tình lựa chọn ăn thoả thích. Còn thức uống thì có nước dừa sáp, dừa dứa, tắc xí muội, nước trái cây các loại.

Điều càng thú vị nhất là khoảng trước và sau tết Đoan ngọ (mùng 5/5âl), vùng đất này sản sinh sản vật thiên nhiên độc đáo trong vườn cây trái và du khách có thể thưởng thức đó là: “nấm mối” xào nước cốt dừa lá cách hay xào muối ớt; nấm mối quấn lá cách nướng; lẩu nấm mối; canh măng, canh rau vườn nấu với mấm mối…
Du khách đến với vùng cây lành trái ngọt bốn mùa này, tùy thích chọn lựa tham quan nhiều điểm du lịch sinh thái - miệt vườn nổi tiếng như: Ba Ngói ở cồn Phú Đa (xã Vĩnh Bình) với vườn cây trái trĩu cành nhiều chủng loại; du lịch sinh thái Năm Công (xã Hưng Khánh Trung B) chuyên sản xuất cây kiểng hình dạng thú, cây cảnh,… Và còn nhiều điểm du lịch như Lan Anh (Cái Mơn); du lịch sinh thái Hồ Vũ (xã Phú Phụng). Phải nhìn nhận rằng chổ nào nơi đây cũng trang trí phù hợp với không gian, rất đẹp mắt, thu hút khách và làm du khách không thể nào quên khi đến vui chơi thưởng thức các món ăn miệt vườn sông nước Cửu Long này.Ngoài sự ưu đãi đặc biệt của thiên nhiên cho xứ sở này với không khí trong lành, với cảnh quan, sông nước hữu tình và cây trái tươi tốt quanh năm, người dân vùng đất này còn có cả tấm lòng nhân hậu, hiếu khách, biết giữ chân khách. Du khách đến rồi sẽ đi, nhưng với cách sống, cách bố trí nhà cửa, cây cối trong vườn và lối sống, ứng xử có tình người nơi đây sẽ làm cho khách giữ mãi những kỷ niệm đẹp về nơi họ từng đến. Và rồi mai mốt họ sẽ giới thiệu với bạn bè và cùng quay trở lại. Hy vọng rằng, với cảnh quan sinh thái – miệt vườn và xu thế đổi mới cách làm du lịch, trong tương lai Chợ Lách sẽ hoà cùng các huyện khác của tỉnh làm nên thương hiệu du lịch vùng sông nước Bến Tre có nét đặc sắc riêng và trở thành thương hiệu “Du lịch xứ dừa” của quê hương Đồng Khởi.
Đến Chợ Lách, du khách có thể chọn lưu trú qua đêm tại khách sạn hay nhà nghỉ tại thị trấn. Hoặc du khách cùng trải nghiệm thưởng thức bản giao hưởng “tấu khúc đồng quê” của thiên nhiên. Tại Chợ Lách du khách tùy thích lựa chọn mua sản phẩm của xứ dừa hay đặc sản đặc sắc của vùng đất này làm quà cho bè bạn kỷ niệm nhân chuyến đi du lịch thú vị khó có thể quên ở vùng “vương quốc cây trái và hoa kiểng” ./.


TTXTDL Bến Tre
 

ttxtdlbentre

Phượt thủ
Điểm đến du lịch “văn hóa – lịch sử”: Giồng Trôm - đất thép thành đồng

Huyện Giồng Trôm nằm khoảng giữa cù lao Bảo, bắc giáp huyện Bình Đại, có ranh giới chung sông Ba Lai, đông giáp huyện Ba Tri, tây giáp thành phố Bến Tre và huyện Châu Thành, nam giáp huyện Mỏ Cày Nam, có ranh giới chung sông Hàm Luông. Địa danh Giồng Trôm được cấu tạo theo cách: đặc điểm của đất cộng với tên thực vật – một con giồng có cây trôm mọc - giống như sự cấu tạo các địa danh Giồng Tre, Giồng Mít, Giồng Dứa. Như vậy, cái tên Giồng Trôm xuất hiện trên đất Bến Tre đã từ lâu.
Giồng Trôm là huyện có diện tích đất đai rộng đứng hàng thứ 5 so với các huyện khác của tỉnh Bến Tre. Đất đai nơi đây được cấu tạo từ phù sa của hai con sông lớn Ba Lai và Hàm Luông, lại được tưới tắm bởi một mạng lưới sông rạch chằng chịt, do vậy mà Giồng Trôm có thế mạnh của một nền kinh tế nông nghiệp đa dạng. Diện tích vườn dừa những năm gần đây tuy có giảm nhưng vẫn đứng hàng thứ hai của tỉnh.

Huyện Giồng Trôm từng có thời kỳ mang tên là quận Tán Kế, để ghi nhớ tên người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở vùng Ba Châu. Cho nên cũng có thể coi huyện Tán Kế là tiền thân của huyện Giồng Trôm sau này.
Mảnh đất này có nhiều di tích lịch sử trong hai thời kỳ kháng chiến và là nơi sản sinh nhiều vị tướng lĩnh danh tiếng như: tướng Đồng Văn Cống, Nữ tướng Nguyễn Thị Định, Đại tướng Lê Văn Dũng, tướng Võ Viết Thanh, tướng Nguyễn Hữu Vị, tướng Trần Minh Tích, tướng Trần Văn Nhiên, tướng Võ Khắc Sương, tướng Nguyễn Văn Ngai, tướng Nguyễn Hoàng, tướng Hồ Quốc Việt. Nơi đây còn là một nơi lưu giữ những tài sản tinh thần liên quan đến nhà thơ Phan Văn Trị và là nơi đã nuôi, che chở cho đồng chí cố Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Lê Duẩn trong thời gian hoạt động cách mạng (11/1955 – 3/1956).
Các điểm tham quan du lịch tại Giồng Trôm
* Khu tưởng niệm Nguyễn Thị Định:

Khu lưu niệm nữ tướng Nguyễn Thị Định tọa lạc tại ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm cách thành phố Bến Tre khoảng 8,5 km, nằm trên tỉnh lộ 885 về hướng Đông.

Năm 1936, Bà bắt đầu tham gia cách mạng (lúc này chỉ mới 16 tuổi). Năm 1946 bà Nguyễn Thị Định là thành viên trong đoàn cán bộ của Khu 8 vượt biển ra Bắc gặp Đảng, gặp Bác Hồ để báo cáo tình cách mạng miền Nam và xin chi viện vũ khí. Bà tuy ít tuổi nhưng mưu trí nên được phân công làm thuyền trưởng trong chuyến tàu đầu tiên chở đầy vũ khí về đến nơi an toàn. Từ đó tên tuổi của bà gắn liền với đường Hồ Chí Minh trên biển. Sau hiệp định Giơnevơ bà Nguyễn Thị Định được phân công ở lại miền Nam và được chỉ định vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy bí mật (tỉnh Bến Tre) cùng nhiều đồng chí khác.
Bà cùng Tỉnh ủy Bến Tre lãnh đạo nhân dân nổi dậy phá thế kìm kẹp của địch tại ba xã: Định Thủy, Bình Khánh và Phước Hiệp (Mỏ Cày) thành công vào ngày 17/01/1960 mở đầu cho cao trào đồng loạt nổi dậy trong toàn tỉnh và cả miền Nam lúc bấy giờ.
Tháng 5/1961 bà Nguyễn Thị Định là Khu ủy viên Khu 8, với nhiều kinh nghiệm trong chỉ huy thắng lợi phong trào đoàn kết ở Bến Tre, Bà tiếp tục xây dựng và phát huy có hiệu quả sức mạnh của đội quân tóc dài làm cho quân thù khiếp sợ. Đầu năm 1965 bà là Phó Tư lệnh lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam, ủy viên quân ủy Miền Nam Việt Nam phụ trách phong trào du kích chiến tranh trong đó có nhiệm vụ tiếp tục củng cố và phát triển đội quân tóc dài làm nồng cốt trong lực lượng đấu tranh chính trị, trực diện bổ trợ cho quân chủ lực, quân địa phương tiêu diệt sinh lực địch.
Tháng 4/1974 Nguyễn Thị Định với quân hàm thiếu tướng là Trưởng đoàn đại biểu Mặt trận Quân đội, Hội Phụ nữ giải phóng Miền Nam ra thăm Miền Bắc, sau đó cùng đoàn dự Đại hội Phụ nữ Toàn quốc lần thứ 4 và đi thăm các nước trên thế giới.
Cô ba Định có 56 năm hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc. Với sự hy sinh cao cả đó bà được nhận nhiều huân, huy chương cao quý trong đó có Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ Thế giới, giải thưởng hòa bình quốc tế Lê Nin, Huân chương Giron của nhà nước Cuba và Nhà nước nước CHXHCNVN truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào 30/8/1995.

Để tri ân công lao đóng góp của bà đối với quê hương, đất nước ngày 26/12/2000 nhân dân Bến Tre đã khởi công xây dựng đền thờ Bà tại quê nhà và đưa vào phục vụ từ ngày 20/12/2003. Khu vực đền thờ rộng gần 15.000m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam, trụ rào theo kiểu thức thống nhất của cổng, rào bằng thép thông thoáng có hoa văn trang trí ở phía trước. Đền thờ cao ráo, thoáng mát xây theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 4 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết. Đền có 3 cửa ra vào chung quanh có hành lang rộng. Trong đền thờ, tượng đồng chân dung vị nữ tướng trong trang phục áo bà ba khăn rằn quấn cổ, hình ảnh được người dân nhớ nhất khi nghĩ đến cô Ba được đặt trang trọng trên bệ đá hoa cương. Trước đền là sân lễ, cây kiểng được trồng chung quanh các công trình kiến trúc, các trục đường đi bộ nối với những mảng cỏ xanh đệm ở phía trước tạo cho khu vực thêm vẻ mỹ quan. Ngoài đền thờ còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của bà. Đây là một trong những công trình văn hóa điểm thêm một dấu son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử của tỉnh nhà. Hằng năm vào ngày 28/7 (âm lịch) lễ giổ của bà được tổ chức long trọng tại đây để tưởng nhớ công lao một nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, của nhà nước, một vị tướng quân gái của dân tộc Việt Nam.

* Di tích lịch sử Đền thờ và mộ thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng:

Nguyễn Ngọc Thăng quê làng Mỹ Thạnh, huyện Tân An, nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm. Năm 1848 Ông giữ chức Lãnh binh trong quân đội dưới triều Thiệu Trị. Năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, ông đem binh ứng cứu, nhưng chưa kịp đến nơi thì thành bị hạ. Ông được lệnh đóng giữ phòng tuyến Kỳ Hòa, ở đồn Cây Mai. Do lực lượng quá chênh lệnh, sau một thời gian cầm cự, ông rút quân về Gò Công, cùng phối hợp chiến đấu với nghĩa quân Trương Định. Ngày 27-6-1866, ông bị trúng đạn, tử thương trong một trận giao chiến kịch liệt với Pháp. Thi hài ông được đưa về quê bằng ghe, quàn tại một con giồng nhỏ cách chợ Mỹ Lồng gần 1.000m. Sau khi ông chết, vua Tự Đức có phong sắc, áo mũ và một thanh gươm, nhưng vì chiến tranh nên những di vật này đặt ở đền thờ ông ở ấp Giồng Keo bị hư hỏng, thất lạc.
Đền thờ Ông trước đây là đình làng, thờ Thành hoàng bổn cảnh.Vào năm 1984, nhân dân địa phương đem bài vị của ông vào đình thờ như một vị thần đã có nhiều công lớn đối với đất nước trong việc chống ngoại xâm. Từ đó đình trở thành Đền thờ lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng tọa lạc tại ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh, nằm bên cạnh đường tỉnh 885, cách thành phố Bến Tre 6,5 km. Ngày giỗ ông hàng năm là ngày rằm tháng 5 âm lịch.
* Di tích cuộc thảm sát 286 người của quân Pháp ở ấp cầu Hòa:

Di tích tọa lạc tại ấp Cầu Hòa - xã Phong Nẫm - Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 9 km theo đường bộ. Nơi đây, vào lúc 5 giờ sáng ngày 10-01-1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất), hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào. Đây là cuộc tàn sát có quy mô nhất và dã man nhất ở Bến Tre trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954).

* Di tích nghệ thuật Đình Bình Hòa:

Đình Bình Hòa nằm cạnh đường 885, cách thành phố Bến Tre 16km, có thể đến bằng đường bộ hoặc đường thủy. Đình Bình Hòa được xếp trong danh mục 20 ngôi đình lớn và đẹp của tỉnh Bến Tre, là ngôi đình cổ nhất ở cù lao Bảo. Những tài liệu còn lưu giữ ngôi đình tồn tại đến nay gần 200 năm. Đình được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 6 (1852). Ngôi đình có quy mô kiến trúc tương đối lớn còn giữ được đến ngày nay, không phải là dạng nguyên sơ của nó, mà đã được xây cất lại vào năm 1903. Hiện tại còn hơn 100 hiện vật điêu khắc gỗ tinh vi, sắc sảo, gồm những bức hoành phi, liễn đối, bao lam, phù điêu, hương án, đồ lễ bộ… được lưu giữ. Hằng năm vào rằm tháng giêng (âl) diễn ra lễ cúng đình lần thứ nhất và vào rằm tháng chạp (âl) lần thứ hai.
Về mặt kiến trúc trang trí bên trong cũng như những công trình nghệ thuật khác ở bên ngoài của đình, vẫn là sự kết hợp yếu tố nghệ thuật cung đình với nghệ thuật tôn giáo và được dân gian hóa ở mức độ nhất định. Đó là những đề tài lân, long, quy, phụng, chim muông, sen-cua, trúc-tước, nho-sóc, bần-cò v.v…
Đình Bình Hòa còn là chứng tích ghi nhớ những tội ác của đội quân UMDC của Léon Leroy (thời KCCP) và đặc biệt bọn “công an Ngô Quyền” trong những chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” đẫm máu dưới thời Ngô Đình Nhiệm.

Còn tiếp ...

TTXTDL Bến Tre
 

ttxtdlbentre

Phượt thủ
Điểm đến du lịch “văn hóa – lịch sử”: Giồng Trôm - đất thép thành đồng (Bài 2)

* Đền thờ Trung tướng Đồng Văn Cống:
Trung tướng Đồng Văn Cống được xem là người anh cả của lực lượng vũ trang tỉnh Bến Tre. Ông còn là thủ lĩnh du kích xã Tân Hào thời chống Pháp, Chi đội trưởng Chi đội 19, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 99 với những chiến công vang dội trên các chiến trường Bến Tre, Gò Công, Trà Vinh, Vĩnh Long. Thời chống Mỹ, ông là Tư lệnh Quân khu 9, Tư lệnh Khu 8, Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng của Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Để ghi nhớ công lao của Ông, Ủy ban nhân dân huyện Giồng Trôm phối hợp với Sở LĐTB-XH tỉnh Bến Tre cùng chính quyền địa phương xã Tân Hào xây dựng công trình Đền thờ Trung tướng Đồng Văn Cống - vị tướng bưng biền - một người con ưu tú của quê hương Đồng Khởi tại quê nhà của ông (ấp 6 - xã Tân Hào - huyện Giồng Trôm).


* Ngôi nhà của Nguyễn Văn Trác, nơi ở, làm việc của đồng chí Lê Duẩn:
Ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác (thường gọi là Mười Trác) ở xã Hưng Lễ, huyện Giồng Trôm, là nơi Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn đã ở và làm việc từ tháng 11-1955 đến tháng 3-1956, để chỉ đạo phong trào cách mạng miền Nam và tổng hợp tình hình và dự thảo Đề cương cách mạng miền Nam. Nhà gồm 3 gian, hai chái bằng gỗ, xung quanh là vườn dừa, có lối thoát thuận tiện khi gặp biến cố. Đồng chí Lê Duẩn hàng ngày làm việc, ăn ở ngay trong căn buồng, có kê chiếc giường đôi, cạnh đó là một tủ đứng, bên trong bố trí thông với một hầm bí mật đào dưới đất. Việc canh gác theo dõi người lạ, địch bên ngoài đều do vợ chồng ông bà Nguyễn Văn Trác đảm nhiệm.

Sau ngày miền Nam giải phóng (30-4-1975), đồng chí Lê Duẩn có về thăm lại ngôi nhà xưa, cùng những đồng bào, đồng chí cơ sở đã nuôi dưỡng, cưu mang và bảo vệ mình trong những ngày cách mạng miền Nam bị địch đánh phá khốc liệt. Ngôi nhà ngày xưa đã bị chiến tranh tàn phá, chỉ còn lại chiếc tủ đứng bằng gỗ làm hầm bí mật, hiện đang được trưng bày ở Bảo tàng Bến Tre. Ngôi nhà gia đình ông Mười Trác được hỗ trợ xây dựng lại, để ghi dấu một di tích của thời đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ.

* Đền thờ Phan Văn Trị:

Phan Văn Trị, sinh năm Canh Dần (1830) tại thôn Hưng Thạnh, huyện Bảo An, phủ Hoằng An, Trấn Vĩnh Thanh (nay là xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre). Khoa thi Kỷ Dậu 1849, năm Tự Đức thứ 3, Phan Văn Trị đỗ thứ 10 trên 17 Cử nhân, năm ấy ông vừa tròn 19 tuổi. Với tài học đó, Cử Trị có thể ra làm quan, nhưng vì chán cảnh quan trường, buồn phiền vì thời cuộc cứ rối ren... Ông không ra làm quan, mà về sống đạm bạc bằng việc dạy học ở làng Bình Cách (nay thuộc TX Tân An, tỉnh Long An), sau tị địa về Vĩnh Long rồi về Phong Điền, Cần Thơ, vừa dạy học, bốc thuốc, vừa làm thơ… Đức độ và tài năng của Phan Văn Trị đã làm cho nhiều người cảm phục. Trong số đó có cai tổng Định Bảo tên là Lê Quang Chiểu xem ông như một bậc thầy. Ông mất ngày 16 tháng 5 năm Canh Tuất (22 tháng 6 năm 1910) tại Xã Nhơn Ái (nay thuộc huyện Phong Điền, Tp Cần Thơ), thọ 80 tuổi. Tại xã Thạnh Phú Đông, quê hương Phan Văn Trị, đầu năm 1998, chính quyền huyện Giồng Trôm (tỉnh Bến Tre) cũng đã cho xây dựng Đền thờ Phan Văn Trị.

* Du lịch sinh thái Cồn Ốc (Hưng Phong):
Cồn Ốc thuộc xã Hưng Phong, huyện Giồng Trôm, là cồn nổi lớn nhất trên sông Hàm Luông, có diện tích tự nhiên 647ha. Đến nơi đây cả đường bộ lẫn đường thủy đều thuận lợi (cách thành phố Bến Tre khoảng 12km). Ban đầu, nơi đây chỉ là một cồn nhỏ và thấp, có nhiều ốc bám vào các loài cây ngập nước trên nền phù sa, vì vậy mới có tên là Cồn Ốc. Vùng này, có nhiều loài cây ăn trái đặc hữu như: Dừa núm, bưởi da xanh... với chất lượng ngon hơn hẳn các vùng khác. Dừa núm trồng trên vùng đất cát phù sa của Cồn Ốc có độ ngọt đượm và nhiều nước hơn. Bưởi da xanh ở đây có múi sắc hồng, không hột, không the, vị ngọt đượm với vị chua dịu miệng, trái chín vẫn giữ trọn sắc xanh. Đặc biệt, một giống cây quý của Cồn Ốc, được xem như một thứ giải khát hiếm có là dừa dứa. Đây là giống dừa có nước và cùi đượm vị ngọt, thoảng hương lá dứa. Cây dừa dứa rất kén đất, chỉ thích hợp với vùng nước lợ, nước ngọt sẽ cho trái có vị chua, nước mặn làm trái bị nhỏ. Cồn Ốc chính là vùng đất đầu tiên ở Việt Nam trồng được giống dừa quý hiếm này.

Ngoài các loại dừa, Cồn Ốc còn có đa dạng các loại cây trái khác như: Cam, quýt, chanh, nhãn, Sapôchê…

Đến Cồn Ốc du khách còn hứng thú tham gia vào quá trình sản xuất để khám phá và trải nghiệm tại các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ làm từ cây dừa và đan giỏ cọng dừa.

Đến Giồng Trôm, du khách sẽ bắt gặp một số làng nghề truyền thống thường nghe nhắc đến như "Bánh Tráng Mỹ Lồng - Bánh Phồng Sơn Đốc". Du khách có thể hòa mình hay tận tay tham gia vào quá trình sản xuất để khám phá, nghiên cứu và trải nghiệm làng nghề truyền thống làm “Bánh phồng” tại ngã Sơn Đốc – xã Hưng Nhượng hoặc làng nghề “Bánh tráng” xã Mỹ Thạnh.

Giồng Trôm còn có chợ Chanh ở xã Lương Quới, nằm cặp tỉnh lộ 885 (cách Tp Bến Tre 12 km). Đây là chợ đầu mối mua bán chanh độc nhất vô nhị ở vùng ĐBSCL.

Du khách đến Giồng Trôm vào khoảng trước và sau tết Đoan ngọ (mùng tháng 5/5al), sẽ thưởng thức sản vật thiên nhiên trong các vườn dừa, vườn cây trái rất độc đáo đó là: “Nấm mối” xào nước cốt dừa lá cách hay xào muối ớt; nấm mối quấn lá cách nướng, lẩu nấm mối hay canh mướp, canh rau vườn nấu với mấm mối, bánh xèo mấm mối và món ăn kỳ thú “đuông dừa”….

Du khách có thể tham quan chụp ảnh đẹp:


Du khách mua quà lưu niệm hay đặc sản xứ dừa Bến Tre tại các đại lý ven tỉnh lộ 885 trên đường về thành phố Bến Tre. Du khách lưu trú qua đêm tại Khách sạn hay nhà nghỉ tại thành phố Bến Tre, để khám phá nét đẹp về đêm của vùng sông nước xứ dừa; thưởng thức các món chè nước cốt dừa đặc sắc, các món ăn dân dã, đồng quê tại các điểm ẩm thực ngoại ô thành phố Bến Tre.
Du khách có thể thuê những chiếc xe đạp để khám phá ngắm cảnh đồng quê về chiều tại vùng ven thành phố Bến Tre./.

TTXTDL Bến Tre
 

ttxtdlbentre

Phượt thủ
Điểm đến du lịch "Văn hóa - Lịch sử": tuyến Mỏ Cày Nam - Mỏ Cày Bắc và Thạnh Phú (B1)

Bến Tre được hình thành trên 3 dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và Chợ Lách nằm trên cù lao Minh. Từ thành phố Bến Tre đến huyện trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam khoảng 14km, Thạnh Phú 47 km và Chợ Lách 39 km. Hiện nay, đến vùng đất này “không còn phải lụy phà” như trước đây, bởi cầu Hàm Luông đã nối đôi bờ thành phố Bến Tre với dãy đất cù lao Minh.

Ca dao Bến Tre lưu truyền:
Thấy dừa thì nhớ Bến Tre
Thấy bông mía trắng nhớ quê Mỏ Cày

Hay:
Sầu riêng, măng cụt Cái Mơn
Nghêu sò Cồn Lợi, thuốc thơm Mỏ Cày

Mảnh đất Mỏ Cày trước đây (nay là Mỏ cày Nam và Mỏ Cày Bắc), được hình thành từ hai con sông lớn Hàm Luông và Cổ Chiên bồi đắp qua nhiều thế kỷ, nên có địa hình tương đối bằng phẳng, gồm những cánh đồng lúa, những ruộng mía và vườn cây ăn trái thỉnh thoảng xen kẽ một số cồn cát. Nơi đây, có diện tích trồng dừa lớn nhất tỉnh. Ngoài hai con sông lớn cặp hai bên bờ cù lao, còn có nhiều sông nhỏ, vừa và những con rạch chia cắt dọc ngang, rất thuận lợi về giao thông thủy. Xứ sở này, đã được trời đất ban tặng hai dòng sông ôm ấp, bao bọc, vun đắp phù sa cho rừng dừa nơi đây mãi mãi tốt tươi với những rặng dừa cao vút, rễ bám sâu vào đất mẹ, để dẻo dai trước bão giông, quật cường cùng con người trong đấu tranh và xây dựng.

Đứng trên đỉnh cầu Hàm Luông nhìn sang hướng Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc hay đi trên con sông Hàm Luông rộng mênh mông, du khách thỏa sức ngắm nhìn hai bên bờ sông với rừng dừa bạt ngàn xanh biếc đứng hiên ngang với những vườn cây xanh ngát. Đến đây, đâu đâu ta cũng thấy vẻ đẹp lấp lánh của những rặng dừa:
“Dừa ơi dừa! Người bao nhiêu tuổi
Mà lá xanh xanh mãi đến giờ”

* Di tích lịch sử căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định:
Từ thành phố Bến Tre qua cầu Hàm Luông đến ngã tư đèn đỏ, đèn xanh, rẽ phải đi tiếp 4 km nữa là đến khu căn cứ có mật danh là T4, Y4 (hay còn gọi là căn cứ khu ủy Sài Gòn – Gia định) thuộc xã Tân Phú Tây thuộc huyện Mỏ Cày Bắc.

Tháng 6-1969, cơ quan lãnh đạo của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chuyển về đóng tại xã Tân Phú Tây. Đây là vùng mới giải phóng, nhân dân kiên cường, có trình độ giác ngộ chính trị cao, địa hình lại rất hiểm trở, nhiều kênh rạch chia cắt, có nhiều vườn dừa liên tiếp che chắn, địch không thể hành quân bằng xe cơ giới, thiết giáp, kể cả việc dùng trực thăng đổ quân cũng bị nhiều hạn chế.

Bên trong căn cứ, ta thiết lập hàng chục hầm kiên cố có khả năng chịu đựng được pháo 105 ly, những công sự chiến đấu và hệ thống hầm bí mật, chỗ làm việc của lãnh đạo Khu ủy, nơi giành cho các cuộc hội nghị, cơ sở hậu cần, bảo vệ v.v… Ở vòng ngoài là hành lang bảo vệ và đầu mối liên lạc, gồm các xã chung quanh như Thành An, Hòa Lộc, Thạnh Ngãi, Phước Mỹ Trung. Thời gian đóng căn cứ ở đây không dài, nhưng cơ quan Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã được sự hỗ trợ, cưu mang đầy tình nghĩa của quân và dân huyện Mỏ Cày nói riêng và tỉnh Bến Tre nói chung.

Những di tích của căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định coi như bị bom đạn địch xóa sạch trong chiến tranh. Để lưu giữ lại dấu tích của một thời chiến đấu gian khổ, hào hùng, tỉnh Bến Tre đã phục chế lại hai hầm trú ẩn bằng bê tông giả thân cây dừa và dựng bia lưu niệm tại xã Tân Phú Tây. Hiện nay, khu di tích này đang được phục hồi, sau khi hoàn thiện sẽ rộng khoảng 2ha, với các hạng mục chính như: hầm ở và làm việc của ông Võ Văn Kiệt; nơi ở và làm việc của bộ phận cơ yếu, hầm cứu thương; hầm bí mật của các ông Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Trần Bạch Đằng…; nhà trưng bày các hiện vật lịch sử và các công trình liên quan khác. Dự kiến năm 2011 công trình hoàn thành. Xét về giá trị vật chất của công trình thì không lớn, nhưng sẽ có ý nghĩa giáo dục truyền thống yêu nước rất lớn đối với thanh thiếu niên. Công trình này sau khi hoàn thành sẽ trở thành một trong những điểm đến của các hoạt động dã ngoại, về nguồn của các bạn trẻ và cũng là điểm đến của du lịch.

* Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre:

Từ thành phố Bến Tre đi qua phà Hàm Luông theo quốc lộ 57, đến thị trấn Mỏ Cày Nam, rẽ trái khoảng 4km là đến khu di tích Đồng Khởi. Hoặc có thể từ thành phố Bến Tre, vượt sông Hàm Luông theo đường sông đến tận trung tâm của cái nôi Đồng khởi. Đến nơi đây, du khách bạn sẽ được gặp những người dân hồn hậu, những con người đã "bám chặt quê hương", đã đứng lên "dựng những pháo đài" ở xã Định Thủy, cái nôi của cuộc Đồng khởi năm xưa.

Thắng lợi cuộc Đồng khởi (17/01/160) tại vùng điểm (Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh) đã mở màn, cổ vũ cho phong trào nổi dậy trong toàn tỉnh, sau đó lan ra trong toàn miền. Để bảo tồn những di tích và hình ảnh, tư liệu về sự kiện lịch sử to lớn này, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước bất khuất của người dân, và để nâng cao lòng tự hào về những chiến tích đã đạt được, lãnh đạo tỉnh Bến Tre chủ trương xây dựng tại xã Định Thủy một “Nhà truyền thống Đồng khởi”. Khu di tích này được thiết lập trên một diện tích 5.000 m2, gồm nhà bảo tàng một trệt, một lầu, có diện tích sử dụng 500 m2. Trên nóc nhà là một ngọn lửa được cách điệu bằng bê tông cốt thép cao 12 m, màu đỏ - biểu tượng của ngọn lửa Đồng khởi cháy sáng mãi trên xứ Dừa. Bên trong nhà là những gian trưng bày những hiện vật, nhân vật, hình ảnh, biểu đồ, những vũ khí tự tạo để đánh địch v.v… Chung quanh ngôi nhà là những thảm cỏ xanh, sân rộng, những bồn hoa và cây cảnh, làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích.

Tại Định Thủy còn có di tích lịch sử rất độc đáo, nhưng còn ít người biết đến đó là đình Rắn với huyền thoại đầy bí ẩn.
Theo Địa chí Bến Tre, khi đình dựng xong, chức sắc của đình mới gửi sớ về triều xin phong sắc thần. Đến năm Minh Mạng thứ 5 thì đình được nhận sắc phong. Tuy đã có nơi thờ cúng nhưng vào thời đó đất đai ở đây còn hoang hóa mênh mông, đình nằm trên một khoảnh đất cao vì thế rắn độc tụ hội rất nhiều, nhiều hang ăn sâu vào giữa đình. Khi thờ cúng, các chức việc trong đình phải lấy ván bao quanh miệng hang để tránh sự cố xảy ra, từ đấy có tên Đình Rắn. Còn theo người xưa kể lại, ngày xưa nơi đây là rừng rậm, rắn, cọp, cá sấu nhiều vô kể. Ông bà mình từ Đàng ngoài trước khi vào đây phải vượt qua sông cù lao Bảo. Gặp lúc sóng to gió lớn, thuyền bè chao đảo, lúc đó có một con rắn lớn nâng bè qua sông. Cám cảnh rắn thần cứu mạng nên khi đình lập xong người dân liền “thỉnh” ông rắn về thờ. Và kể từ đây những lưu dân khai phá vùng đất này cày cấy năm nào cũng trúng mùa.

Nhiều người còn kể rằng, cũng nhờ có ông rắn mà bọn tề, ngụy, việt gian tối đến không bao giờ dám bén mảng tới nơi này. Nên kể từ sau Cách mạng tháng Tám, Đình rắn là một trong những cơ sở cách mạng bí mật để hội họp, mít tinh. Lúc bấy giờ nữ tướng Nguyễn Thị Định là một trong những người thường xuyên lui tới đây để chỉ đạo phong trào cách mạng ở Miền Nam. Đến năm 1970, cuộc chiến càng lúc lan rộng, bom đạn Mỹ đánh phá ác liệt, đình gần như bị sập hoàn toàn nên cơ sở cách mạng ở đây được chuyển đi nơi khác.

Sau ngày miền Nam được giải phóng, các cụ bắt tay tôn tạo lại ngôi đình bằng cây lá đơn sơ để thờ cúng. Đến năm 1993, Bộ trưởng Bộ Văn hoá – Thông tin Trần Hoàn ký quyết định công nhận ngôi đình là di tích lịch sử Đồng Khởi. Năm 2003, Tỉnh ủy Bến Tre trực tiếp chỉ đạo đầu tư, phục dựng lại ngôi đình trông thật khang trang. Đây còn là một trong những địa chỉ dừng chân lý tưởng cho những ai có dịp về thăm quê hương Đồng Khởi.

Đến Định Thủy còn có một điểm tham quan, du lịch sinh thái hấp dẫn đó là Vàm Nước Trong, cửa ngõ đường thủy của huyện Mỏ Cày Nam nối với sông Hàm Luông. Với những vườn dừa rợp bóng, những bãi bờ hoang sơ tĩnh lặng, nơi đây đã từng ghi dấu những chiến công vang dội của những người anh hùng Việt Nam. Đến đây, du khách có dịp lai rai đặc sản mắm tép kẹp với thịt ba rọi luộc hoặc ăn với cá lóc nướng trui hay tôm, tép nướng; cá ngát nấu chua với bần dốt; bánh bột gạo rau mơ hấp; bánh xèo, bánh khọt pha với nước cốt dừa, thơm béo vô cùng.

Điều du khách không thể bỏ qua là sự chân tình, mến khách, yêu thích văn nghệ của người dân Định Thủy, du khách cùng thưởng thức đờn ca tài tử và có thể giao lưu loại hình này bên dòng Hàm Luông thơ mộng rợp bóng dừa xanh.

Đến đây, khám phá sản vật thiên nhiên du khách sẽ được thưởng thức món đuông dừa (chiên mỡ), hay trước hoặc sau mùng 5 tháng 5âl (tết Đoan ngọ) khoảng một tháng, du khách sẽ vô cùng thú vị khi thưởng thức món ăn độc đáo được chế biến từ “nấm mối” xào nước cốt dừa lá cách hay xào muối ớt; nấm mối quấn lá cách nướng, lẩu nấm mối hay canh mướp, canh rau vườn nấu với mấm mối, bánh xèo mấm mối…


Còn tiếp ...

TTXTDL Bến Tre