What's new

[Chia sẻ] 1 THÁNG LƯỚT QUA PHÍ BẮC ẤN, DARJEELING, SIKKIM, KOLKATA, TỨ ĐỘNG TÂM ( BODHGAYA, KUSHINAGAR, LUMBINI, VARANASI, DELHI) DHARAMSALA, SHIMLA

daisyh

Phượt thủ
Dấu tích bánh xe ngựa tại Rajgir, gần thánh tích Jarasandha này do Vua Krishna vào thế I đến V trước Tây Lịch, vua đến đây chiêm bái Núi Linh Thứu và đi ngang đồi đá này và để lại dấu tích hằn sâu trên đá dài 30 feet và sâu 5 feet, đã hơn 2 nghìn năm vẫn hằn sâu trên đá.
DSC07068 by daisy pham, trên Flickr
DSC07069 by daisy pham, trên Flickr
DSC07070 by daisy pham, trên Flickr
Đây là cây Kim cang (Rudraksha) trước cổng vào nơi bánh xe ngựa, ban đầu mình nhìn cứ nghĩ là cây xoan đào như mình vì thấy chùm chùm y như chùm hạt soan, nhưng không ngờ đó chính là cây Rudraksha để lấy hạt.
hinh-vong-tay-hat-kim-cang-10.jpg
hinh-vong-tay-hat-kim-cang-10.jpg
hinh-vong-tay-hat-kim-cang-12.jpg

Thông thường các hạt được xâu thành chuỗi với nhau như một tràng hạt. Theo truyền thống, họ tin rằng số lượng hạt là 108 cộng một. Các hạt phụ là bindu. Phải luôn luôn có một hạt phụ (bindu) trên tràng hạt (mala) để tập trung năng lượng thường có 108 hạt. Có nhiều giả thuyết khác nhau về lý do tại sao số 108 lại có ý nghĩa quan trọng trong Phật giáo và Ấn Độ giáo. Một lý do là bởi vì chúng ta phải vượt qua 108 khổ nạn trên đường đến giác ngộ. Một lý do khác, 108 là số phiền não của con người. Trong quá trình trì chú, điều quan trọng là tập trung hoàn toàn vào ý nghĩa của mỗi câu thần chú mà không có bất cứ tạp niệm nào. Tràng hạt sẽ giúp cho người trì chú tập trung vào thần chú mà không cần phải theo dõi số lần đã đọc. Một người không nên đeo tràng hạt (mala) với ít hơn 84 hạt cộng với hạt phụ bindu. Bất kỳ số nào trên đó đều ổn.
 
Last edited:

daisyh

Phượt thủ
Thánh Tích thứ 3: VƯỜN LỘC UYỂN - Sarnath còn gọi là Vườn Nai
DSC07770 by daisy pham, trên Flickr
IMG_7967 by daisy pham, trên Flickr

Sau khi tu thành Chánh quả ở BohGaya vào năm 35 tuổi vào đêm trăng Rằm tháng Tư ( tìm đường giải thoát năm 29 tuổi) vậy là sau 6 năm tu hành khổ hạnh tại Khổ Hạnh Lâm ( trang 6), Sau khi Ngài giác ngộ, có vị Phạm thiên Sahampati cung thỉnh Ngài vì lòng từ bi thuyết pháp độ đời. Đức Phật quan sát thế gian và nhận lời thuyết pháp. Đầu tiên, Ngài nghĩ đến đạo sĩ Alàra Kàlàma và đạo sĩ Uddaka Ràmaputta, là hai vị thầy dạy đạo cho ngài khi còn là Bồ-tát tầm sư học đạo, nhưng Chư Thiên báo là hai vị này đã qua đời. Tiếp đến, Ngài nghĩ đến năm người bạn là: Kondanna (Kiều Trần Như), Bhaddiya, Vappa, Mahànàma và Assaji, mà lúc trước đã cùng tu khổ hạnh với ngài, và hiện giờ họ đang ở vườn Lộc Uyển, gần thành Ba La Nại ( Varanasi – Sông Hằng).


Từ Bồ đề đạo tràng, nơi Ngài giác ngộ, Đức Phật đi đến vườn Lộc Uyển, một cuộc hành trình khoảng 210 km, mất khoảng 2 tháng, và đến nơi đó vào đúng ngày Rằm tháng Sáu.

Bài thuyết pháp đầu tiên của đức Phật Thích Ca là bài thuyết giảng của ngài cho 5 vị Tôn giả kể trên, tức là nhóm ông Kaundinya (Kiều Trần Như) ở Sarnath (Lộc Uyển). Dù ngắn gọn, nhưng bài thuyết pháp này được xem là một trong những bài giáo lý quan trọng nhất của ngài. Các học thuyết căn bản của đạo Phật, như Ngũ giới, Bát chính đạo, Lục hạnh Ba la mật, Tứ diệu đế, Duyên khởi; cũng như các kinh Chuyển Pháp Luân (Dhamma-Chakka-Pavattan Sutta), Vô ngã (anattā-lakkhana- suttra), v.v đều có xuất xứ từ bài thuyết pháp ngắn gọn này.

DSC07799 by daisy pham, trên Flickr

DSC07798 by daisy pham, trên Flickr

DSC07790 by daisy pham, trên Flickr
DSC07787 by daisy pham, trên Flickr

DSC07777 by daisy pham, trên Flickr
 
Last edited:

daisyh

Phượt thủ
DSC07773 by daisy pham, trên Flickr

Ngày Đức Phật giảng bài kinh đầu tiên là ngày rằm tháng 6 ( theo lịch Nepal) thì ngày rằm tháng 6 cũng là một ngày lễ lớn trong Đạo Phật Nguyên Thủy Theravada

Trong truyền thống Phật giáo Theravada có ba dịp lễ. Đó là ngày lễ Magha Puja, Vesakha Puja, và Asalha Puja. "Puja" nghĩa là tôn kính, quý kính, còn có nghĩa là sự dâng cúng, cúng dường. Ở đây, Puja còn có nghĩa là ngày lễ lớn. "Magha, Vesakha, Asalha" là tên các tháng trong lịch của Ấn độ. So với âm lịch Việt Nam, "Magha" tương ứng với tháng Giêng, "Vesakha" tương ứng với tháng Tư, và "Asalha" tương ứng với tháng Sáu.

"Magha Puja" là ngày lễ Rằm tháng Giêng, kỷ niệm ngày Đức Phật thuyết kệ "Ovada-Patimokkha", là căn bản cho các giới luật sau này. "Vesakha Puja" là ngày lễ Rằm tháng Tư, tức là ngày Tam Hợp hay Phật Đản. "Asalha Puja" là ngày lễ Rằm tháng Sáu, kỷ niệm ngày Đức Phật giảng kinh Chuyển Pháp Luân, và sau đó, chư Tăng Nam tông bắt đầu mùa An cư Kiết hạ.

Ngoài ra, truyền thống Nam tông còn có các ngày lễ khác như ngày Tự Tứ (rằm tháng Chín) -- kết thúc mùa An cư Kiết hạ, và mùa lễ Dâng Y Kathina trong một tháng, từ ngày 16 tháng Chín đến ngày rằm tháng Mười âm lịch.
IMG_7968 by daisy pham, trên Flickr
 

daisyh

Phượt thủ
12243230_954563401303893_1149193880046312701_n by daisy pham, trên Flickr
Thánh tích Kushinagar (Câu-thi-na) – nơi đức Phật nhập Niết bàn
Nơi đức Phật nhập Niết Bàn, Kushinagar đã trở thành một trong bốn thánh tích thiêng liêng nhất của Phật giáo (Lumbini, Bodhgaya, Sarnath và Kushinagar). Khi hành hương, chiêm bái bốn thánh tích (Tứ động tâm) trên miền đất Phật thiêng liêng, có lẽ Kushinagar là thánh tích để lại trong người hành hương những ấn tượng bùi ngùi và xúc động nhất. Nếu như Lumbini (Lâm-tỳ-ni), nơi nhơn thiên và muôn vật hoan ca chào đón sự đản sanh của đấng Từ phụ, thì Kushinagar (Câu-thi-na) là nơi trời người và muôn vật rơi lệ u buồn, tiễn biệt đấng Thiên nhơn sư. Nếu Bodhgaya (Bồ-đề-đạo-tràng) là đạo tràng thiêng liêng, nơi bừng tỏa ánh sáng giác ngộ của đức Phật Thích Ca, thì Kushinagar là nơi ánh đạo huy hoàng của Ngài đã tắt lịm. Nếu Sarnath (vườn Lộc Uyển) là thánh tích thiêng liêng, nơi khơi nguồn của dòng pháp giải thoát, thì Kushinagar là nơi khô cạn chấm dứt suối nguồn giải thoát đang tuôn chảy từ kim khẩu của bậc Đạo sư. Bởi vậy, những người con Phật chúng ta, mấy ai tránh khỏi cảm giác xúc động, u buồn khi chiêm bái, đảnh lễ thánh tích này.
Thành Kushinagar, từ thời đức Phật cho đến hàng chục thế kỉ về sau, vẫn là một nơi xa xôi, hẻo lánh, dân cư thưa thớt. Kushinagar không có những vương thành lộng lẫy, những trung tâm thương mại, phố xá phồn hoa như thành Savatthi (Xá-vệ), thành Rajagaha (Vương-xá), thành Baranasi (Ba-la-nại)… Tuy nhiên, vào thời quá khứ xa xưa, Kushinagar là một vương thành giàu sang cùng tột, dân cư đông đúc, nhưng trải qua sự tàn phá của thời gian, của vô thường hủy diệt, đến thời của đức Phật Thích Ca cũng như nhiều thế kỷ về sau, thành Kushinagar chỉ là những rừng cây Ta La xa vắng, dân cư thưa thớt…
Sau khi đức Phật nhập Niết-bàn, kim thân của Ngài được hoả tang theo nghi thức tang lễ của một vị Chuyển luân Thánh vương. Sau lễ hoả táng, để tránh sự xung đột tranh giành xá lợi của đức Phật, bộ tộc Malla tại Kushinagar đã đồng ý chia xá lợi Ngài làm tám phần đều nhau cho tám vị quốc vương trong tám nước xây tháp cúng dường. Bộ tộc Malla cũng xây một bảo tháp tại nơi lễ Trà tỳ của đức Phật để phụng thờ tro than lúc hoả táng còn lại. Ngôi Tháp này hiện nay vẫn còn.

Đến với thánh tích Kushinagar, ngày nay, chúng ta sẽ được chiêm bái hai nơi thiêng liêng nhất: nơi đức Phật nhập Niết-bàn (gồm tháp Niết-bàn, chùa Niết-bàn…) và nơi diễn ra lễ Trà tỳ kim thân của đức Thế Tôn.
Nơi đức Phật nhập Niết-bàn: Các sử liệu về Kushinagar chưa xác định rõ sau khi đức Phật nhập Niết-bàn, nơi đức Phật nhập Niết-bàn có những gì. Ngôi tháp Niết Bàn, chùa Niết Bàn và những phế tích còn lại mà chúng ta thấy ngày nay được các nhà khảo cổ xác định xây dựng từ thời vua Asoka (vua A Dục, thế kỉ thứ 3 trước Tây lịch) trở về sau.

DSC07367 Tượng Phật nhập diệt, nằm nghiêng bên phải, đầu về hướng bắc. Tượng được đặt trên một bệ đá, mặt trước có khắc chữ đánh dấu vào thế kỉ thứ năm sau công nguyên. Tượng vốn bằng đồng, nhưng người hành hương lần lượt thếp vàng lên trên.
DSC07402[/url] by daisy pham, trên Flickr

IMG_7706 by daisy pham, trên Flickr