What's new

[Tổng hợp] Các tháp Chăm cổ còn lại trên đất Việt

tunbo

Lãnh Chúa
Sáu ngôi tháp ở cụm tháp Pô Đam chia thành 2 nhóm, 3 ngôi phía trước (phía Nam của cả khu tháp) và 3 ngôi phía sau.
Ngày nay, chỉ còn lại 3 ngôi tháp, còn 3 ngôi khác gần như sụp đổ hoàn toàn.



Ngôi tháp nhóm phía trước, bên trái (theo lối bậc lên), được H. Parmentier gọi là tháp Tây Nam.


Tháp Tây Nam nguyên là một ngôi tháp nhỏ 3 tầng, có cấu trúc và trang trí rất dơn giản. Ngày nay 2 tầng trên đã không còn ra hình thù gì nữa. Tháp không có cửa giả ở các mặt tường, chân cột ốp cũng không có trang trí hoa văn. Của tháp phía Nam là một cấu trúc dạng tiền sảnh đơn giản, mô phỏng hình dáng ngôi tháp.



Phần trên của tháp Tây Nam, giờ chỉ còn như thế này.



Cửa tháp nhô ra phía trước như một tiền sảnh, cũng đã bị lở lói, sụp đổ ít nhiều.



Vòm cửa tháp mô phỏng hình dạng ngôi tháp.



Lòng tháp nhỏ hẹp, 3 mặt tường đều có các ô khám nhỏ như các tháp Chăm khác.



Tuy bên ngoài, phần trên trông rất tả tơi, nhưng bên trong nóc tháp vẫn kín.
 

tunbo

Lãnh Chúa

Cạnh tháp Tây Nam là tháp Đông Nam.


Ngôi tháp Đông Nam nhỏ có cấu trúc cơ bản giống tháp Tây Nam bên cạnh, nhưng còn bị sụp mất nhiều hơn.



Cửa tháp sụp lở không còn ra hình dáng ban đầu.



Mặt tường phía Đông - cũng như các mặt tường khác của tháp Tây Nam - chẳng có cửa giả và hoa văn gì hết.



Nóc tháp đã bị hở toác bên trong.


Phía sau lưng hai ngôi tháp nói trên là một ngôi tháp khác - được H. Parmentier gọi tên là tháp Nam - ngôi tháp duy nhất trong các tháp Pô Đam mở cửa về hướng Đông.
Mặt bằng của tháp Nam cũng có hình chữ nhật chứ không vuông như hai ngôi tháp sát kề.
Theo ghi chép cũ của H. Parmentier, tháp Nam giống các tháp Chăm truyền thống khác, các mặt tường Tây, Nam, Bắc của tháp Nam được trang trí cửa giả, có trang trí hoa văn trên vòm cửa giả.
Tiếc rằng hiện tại, tháp Nam gần như sụp đổ hoàn toàn, chỉ còn lại 2 mảng nhỏ của tường Nam và Tây Nam, cùng với 8 viên đá trên một cái bệ thấp trên nền tháp.



Tháp Nam chỉ còn lại góc tường nhỏ phía Nam và Tây Nam ...



... cùng 8 viên đá trên cái bệ trong lòng tháp.
 

tunbo

Lãnh Chúa
Re: Các tháp Chăm cổ còn lại trên đất Việt (tháp Pô Đam)

Ngôi tháp lớn nhất, đẹp nhất ở cụm tháp Pô Đam là ngôi tháp còn lại ở nhóm tháp phía sau. Nhóm phía sau có 3 ngôi tháp, nay 2 ngôi đã sụp đổ chỉ còn dấu tích nền móng.
Ngôi tháp còn lại của nhóm tháp phía sau được gọi là tháp Trung tâm, nó có hình dáng, cấu trúc khá giống với các tháp Hòa Lai, nhưng kích thước nhỏ hơn nhiều, và vì thế, các hoa văn trang trí tuy khá phong phú, nhưng đều nhỏ và đơn giản hơn ở các tháp Hòa Lai nhiều.



Tháp Trung tâm, là ngôi tháp duy nhất còn lại ở nhóm tháp phía sau (phía Bắc khu tháp) - mặt phía Đông


Mặt phía Đông, cửa giả đã bị hư hại nhiều, nhưng thân tháp nói chung còn khá nguyên vẹn.



Mặt phía Tây tháp



Mặt phía Bắc tháp



Mỗi mặt tường có 3 cột ốp, trong đó cột ở giữa rộng hơn và làm nền cho cửa giả
 
Last edited:

tunbo

Lãnh Chúa
Re: Các tháp Chăm cổ còn lại trên đất Việt (tháp Pô Đam)




Dưới mỗi chân cột ốp đều có một hình trang trí ốp



Trên đầu cột ốp lớn ở giữa đỡ một trán cửa hình vòm trang trí cuộn lá lô nhô gợn sóng.



Khung giữa các cột ốp đều trang trí hoa văn chạy dọc ở giữa.
 
Last edited:

ongxanh

xonganh
Vừa khéo, em định vào topic kêu bác vì đã thấy mùi rêu mốc, thì có bài liền.
Xem tháp Chăm em hok hiểu lắm về kiến trúc, nhưng thấy cuốn hút bởi lối dựng và trang trí rất có nhịp điệu, khỏe khoắn, luôn hướng đến con người. Lại thêm cuốn hút vì tháp Chăm chứa nhiều huyền bí, gợi lại nền văn minh xưa, nay đã “Điêu Tàn”:
“Tháng ngày qua, gạch Chàm đua nhau rụng
Tháp Chàm đua nhau đổ dưới trăng mờ”
...
“Nhìn chi em chân trời xa vòi vọi
Nhớ chi em sầu hận nước Chàm ta”
(Chế Lan Viên)
 

tunbo

Lãnh Chúa
Re: Các tháp Chăm cổ còn lại trên đất Việt (tháp Pô Đam)


Mặt Nam tháp Trung tâm, có trổ cửa chính.



Vách ngoài phía mặt Tây của hành lang cửa, vẫn còn nhiều hoa văn xưa



Hoa văn khắc trên diềm phía trên, trong một khoang tường, hình ốp chân cột ngày xứ, bên cạnh phía trái là hình ốp cột mặt tường chính phía Tây tháp, đã mât và được thay mới bằng gạch trơn.



Nhìn phía Nam lại, cột ốp còn giữ được hoa văn xưa, còn chân cột thì ốp một viên gạch mới, trơn nhẵn nhụi.



Ốp chân cột ở cột phía mặt Đông của tháp, mặt Đông tháp bị hư hại nhiều, sau được trùng tu lại, không còn giữ được hoa văn trang trí nhiều.





Hoa văn xưa được khắc trên phía đầu của một cột ốp
 
Last edited:

tunbo

Lãnh Chúa
Re: Các tháp Chăm cổ còn lại trên đất Việt (tháp Pô Đam)

Phần mái của tháp Trung tâm, tiếc rằng đã không còn hình thù xưa, nhưng người ta đoán chắc nó cũng chia làm các tầng thu nhỏ dần giống ở các tháp Hòa Lai.



Cửa chính cấu trúc dạng một tiền sảnh dài và hẹp.



Phần trên mái tháp đã sụp đổ nhiều, nóc tháp đã bị hở.



Ô khám trong lòng tháp ở mặt tường sau được khoét khá cao



Tháp nằm ở rừng núi heo hút, ít khi có người lui tới, nên (hình như) con tắc kè chả sợ người gì cả.


Hai ngôi tháp còn lại của nhóm tháp phía Bắc hiện đã sụp đổ hoàn toàn, chỉ còn lại dấu tích nền móng, cùng một số phế tích bằng đá.





Một bệ tượng dạng Yoni bằng đá xanh, một phần linga bằng sa thạch, ...
 
Last edited:

tunbo

Lãnh Chúa
Re: Các tháp Chăm cổ còn lại trên đất Việt (tháp Pô Đam)

...
Tuy nhiên, trong truyền thuyết Chăm, Pô Đam là vị vua xuất hiện muộn - một truyền thuyết nói ông là con của vua Parachanh, tức La Ngai (vị phó tướng của Chế Bồng Nga khi tiến đánh Đại Việt hồi thế kỷ XIV)
...

Lại có một tài liệu khác về Pô Đam. Ông làm vua Chiêm Thành từ 1458, rồi ngay sau đó, năm 1460 nhường ngôi cho em là Pô Kaprah (sử Việt gọi Pô Đam là Trà Nguyệt, gọi Pô Kaprah là Trà Toàn).
Theo thuyết này, Pô Đam cũng là con của vua Pô Parachanh, nhưng Pô Parachanh không phải là La Ngai.

- Năm 1390, Chế Bồng Nga tử trận ở cửa ngõ Thăng Long, La Ngai - là phó tướng của Chế Bồng Nga - rút tàn quân về Chiêm và tự xưng là vua.
- Năm 1400 La Ngai chết, truyền ngôi cho con là Jaya Sinhavarman V (sử Việt gọi là Ba Đích Lại). Ba Đích Lại chết năm 1441.
Nhưng đối với người Chăm, cha con La Ngai và Ba Đích Lại chỉ là những kẻ tiếm ngôi, vốn không thuộc một dòng dõi thân vương nào cả.
- Vì vậy khi Ba Đích Lại chết năm 1441, triều thần không ủng hộ con Ba Đích Lại nối ngôi, mà đưa "người cháu của cố vương" là Maha Kilai lên ngôi ("cố vương" ở đây, chắc không phải chỉ La Ngai, có thể là một người thuộc dòng Chế Bồng Nga).
Chú của tân vương Maha Kilai là Pô Parachanh đứng ra nhiếp chính và năm 1442 tự xưng vương (tiếm ngôi của cháu), tuy nhiên Pô Parachanh lại được nhà Minh khi đó công nhận.
- Năm 1446, quân nhà Lê (Đại Việt) tấn công chiếm thành Đồ Bàn, Pô Parachanh bị bắt và bị đem về Thăng Long. Maha Kilai được trở về ngôi vua.
- Năm 1449, Maha Kilai bị em là Maha Kido bắt giam rồi tiếm ngôi. Đến năm1452 Kilai chết, và năm 1457 Maha Kido được nhà Minh công nhận.
- Năm 1458 Thái tử của vua Pô Parachanh là Pô Đam (Pô Kathit) giết Maha Kido rồi lên ngôi.
Như vậy trong 12 năm từ khi Pô Parachanh bị bắt, Chiêm Thành tình hình rất phức tạp, cho tới khi Pô Đam giành lại ngôi vua.
Pô Đam ở ngôi không lâu, năm 1460 truyền lại ngôi cho em là Trà Toàn, rồi không thấy được nhắc đến nữa.
(Trà Toàn - Pô Kaprah - tiếp tục làm vua Chiêm Thành, và trong thời gian làm vua, đã liên tục có việc chiến tranh với nhà Hậu Lê của Đại Việt. Kết quả là năm 1471 vua Lê Thánh Tôn thân chinh mang quân đánh Chiêm Thành, bắt sống Trà Toàn cùng hoàng gia. Trên đường bị dẫn về Đại Việt, Trà Toàn tự vẫn ở Nghệ An.
Sau trận này, Chiêm Thành coi như cơ bản không còn, người Chăm chỉ còn một tiểu khu tận cùng phía Nam là Panduranga)


(Theo Tìm hiểu cộng đồng Chăm ở Việt Nam - Nguyễn Văn Huy)
 

tunbo

Lãnh Chúa
Re: Các tháp Chăm cổ còn lại trên đất Việt (tháp Pô Romê)

Tháp Pô Romê nằm ở thôn Hậu Sanh, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Từ Phan Rang đi về phía Nam theo QL1A 9km thì đến thị trấn Phước Dân, rẽ phải vào ở ngã ba giữa thị trấn, rồi tiếp tục hỏi đường, đi thêm chừng 7km nữa thì đến tháp. Nhưng nếu hỏi thăm đường mà hỏi "tháp Pô Romê" thì sẽ lâu hơn, vì dường như trẻ con ở Phước Dân sẽ lắc đầu, người lớn cũng thường lắc đầu, nhưng hỏi "tháp Hậu Sanh" thì ai cũng biết và sẽ chỉ đường đến tháp khá chi tiết.

Sách cũ nói rằng, giữa cánh đồng trù phú ở Hậu Sanh, có hai quả núi nhỏ, trên đỉnh một trong hai quả núi ấy là ngôi tháp Pô Romê, được xây dựng vào thế kỷ XVII thờ vua Pô Romê. Quả núi nhỏ có ngôi tháp cổ có tên là núi (hay đồi) Tro.
Trên con đường nhỏ từ Phước Dân chạy vào giữa cánh đồng, thấy tháp Pô Romê trên đỉnh núi từ xa, đến gần chân núi, brời đườngên đường có tấm bảng ghi tên tháp bên phải đường, sau đó phải rời đường để vào chân núi. Không có đường gì cả, toàn đất đá lổn nhổn, chừng mấy trăm met thì vào được đến chân núi nơi tháp tọa lạc.



Trên tháp nhìn xuống con đường từ Phước Dân đi vào.



Từ đường liên thôn rẽ phải mấy trăm met đường đất để vào chân núi. Căn nhà nhỏ bên dưới là nơi ở của người trông tháp.


Tháp Pô Romê có lẽ là ngôi tháp cuối cùng của người Chăm xưa xây dựng. Tuy nó giống như một bản sao thu nhỏ của tháp Pô Klong GiaRai nhưng đơn giản hơn rất nhiều, có thể do nghệ thuật kiến trúc của các triều đại về sau này sút kém hơn nhiều so với hồi những thế kỷ trước.



Ngôi tháp nhỏ và đơn giản (mặt Tây, là mặt lưng tháp).
 

tunbo

Lãnh Chúa
Re: Các tháp Chăm cổ còn lại trên đất Việt (tháp Pô Romê)

Pô Romê cũng là một trong số các vị vua được thần hóa của người Chăm, được người Chăm thờ phụng vì có nhiều công lao với dân chúng lúc sinh thời.

Truyền thuyết Chăm mô tả về nguồn gốc, cuộc đời và sự nghiệp của Pô Romê khá ly kỳ.
Đại khái rằng mẹ Pô Romê đang là gái đồng trinh, tự nhiên thụ thai, nên bị đuổi ra khỏi nhà, phải tự vào rừng sinh nở và nuôi con, rồi sau đó nhờ những cơ duyên tình cờ mà Pô Romê được vua gả con gái cho, rồi sau đó truyền ngôi cho.
Tuy ông có nhiều công lao làm đất nước hưng thịnh, nhưng lại cũng là người trúng mỹ nhân kế của chúa Nguyễn, rồi thua trận và bị giết.


Đấy là về truyền thuyết, còn thực tế lịch sử, vua Pô Romê được ghi khá rõ (có lẽ vì ông sống khá gần với ngày nay).
Các tài liệu sử Chăm còn lại, ghi rõ rằng Pô Romê làm vua Chăm từ năm 1627 đến 1651.


Sau chiến bại của Trà Toàn năm 1471 với nhà Lê (Đại Việt), đất Chiêm Thành cũ bị chia nhỏ, Lê Thánh Tôn sau khi bắt Trà Toàn, đã phong vương cho cháu Trà Toàn là Bố Trì Tri, được cai quản vùng đất Panduranga và KautHara.
Em Trà Toàn là Trà Toại được cai trị ở vùng Tây Nguyên.

Đến thế kỷ XVI, thời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng, vương quốc (Nam) Chiêm Thành được nhìn nhận trở lại.

Tuy nhiên, sau 1471, nhóm hoàng tộc Chăm từ Nam Bàn (từ Quảng Nam đến Đồ Bàn) chạy về Giao Nam (Bình Thuận) lánh nạn và tranh chấp quyền bính với các dòng vương tôn địa phương tại Phan Rang (Virapura). Nhóm người này tự nhận là truyền nhân đích tôn của vương triều cũ (vương triều Vijaya) và kêu gọi dân chúng địa phương không thừa nhận dòng họ Bố Trì Tri vì chỉ là cấp thừa hành của các dòng tiên vương (do nhà Lê phong vương cho). Tuy âm thầm nhưng rất mãnh liệt, các dòng vương tôn Nam Bắc Chiêm Thành kết thành từng phe nhóm tranh chấp lẫn nhau.
Với thời gian, dòng dõi vương tôn Nam Bàn được dân chúng mến chuộng và tôn lên làm vua cai trị lãnh thổ Nam Chiêm Thành. Yếu tố bộ tộc truyền thống Cau và Dừa phai dần trong ký ức tập thể dân gian và kể từ thế kỷ 15 trở về sau huyền thoại này không còn được nhắc tới nữa.
Dòng họ Bố Trì Tri không trị vì lâu. Năm 1478 Bố Trì Tri mất, em là Koulai lên thay nhưng năm 1505 bị ám sát tại Champassak (Nam Lào), con là Chakou Poulo kế nghiệp và trị vì đến 1530 thì mất.
Kể từ sau ngày đó con cháu dòng vương tôn Nam Bàn được hoàng triều và dân chúng tôn lên làm vua.
Con Trà Toại là hoàng thân Po Karutdrak được tôn lên làm vua, kế nghiệp Chakou Poulo cai quản xứ Panduranga.
Con Karutdrak, thái tử Maresarak làm vua năm 1536.
Po Kanarai lên ngôi năm 1541, hiệu Chế Bãi.
Năm 1553 Chế Bãi mất, Po Ất (Po At) lên thay
Năm 1560, Nguyễn Hoàng bị Trịnh Kiểm buộc phải cống nộp phẩm vật hàng năm. Không sao tìm đủ phẩm vật dâng nộp, Nguyễn Hoàng cử người xuống Aryaru (Tuy Hòa) thông báo cho vua Po Ất cung cấp số lượng phẩm vật nói trên, nhưng bị từ chối. Liền tức thì, Nguyễn Hoàng xua quân tiến chiếm Phan Rang, quân Chăm rã hàng, hàng ngàn người chạy theo Po Ất lên Tây Nguyên lánh nạn. Sau khi cướp phá các đền đài và tịch thu hết tài sản của hoàng gia Chiêm, Nguyễn Hoàng rút quân về nước nhưng để lại số binh sĩ trấn giữ Tuy Hòa.
Năm 1579, lợi dụng sự yếu kém của quân Chăm, một hoàng thân Khmer trấn thủ lãnh thổ đông-bắc Chân Lạp (Mondolkiri và Rattanakiri) dẫn đại quân tiến vào Phan Rang giết Po Ất rồi tự xưng vương, hiệu Po Klong Halau.
Năm 1603 khi Po Klong Halau qua đời, con là Po Thikdhik lên thay, hiệu Po Nit
Po Nit mất năm 1613, em là Po Chai Păran kế nghiệp. Po Chai Păran dời đô từ Virapura (Phan Rang) về Bal Canar (thôn Tịnh Mỹ, Phan Rí) đề phòng chúa Nguyễn tấn công bất ngờ.
Năm 1618 Po Chai Păran mất, con là Po Ehklang lên ngôi.
Năm 1622 nội bộ triều chính Panduranga có loạn, một vương tôn đạo Bani tên Po Klong Menai (Po Klău Manai) giết Po Ehklang rồi tự xưng vương, hiệu Po Mahtaha

Dưới thời Po Klong Menai, xung đột với người da trắng và tôn giáo trở nên trầm trọng. Đất nước trở nên loạn lạc, dân chúng sống trong cảnh lầm than, tại mỗi nơi các lãnh chúa và tù trưởng địa phương tùy theo sức mạnh của mình tổ chức đánh phá các nơi khác để cướp bóc lương thực.

Trước cảnh loạn lạc này, năm 1627, một tù trưởng người Thượng gốc Churu tên Thốt được dân chúng Chăm và người Thượng tôn lên làm lãnh tụ đứng ra dẹp loạn. Dẹp loạn xong, tù trưởng Thốt được dân chúng tôn lên làm vua, hiệu Po Romé (Pô Romê)

(Theo Tìm hiểu cộng đồng Chăm ở Việt Nam - Nguyễn Văn Huy)

Như vậy, Pô Romê không phải là người Chăm mà là người ChuRu.
Pô Romê có lẽ là người mở ra triều đại cuối cùng của Nam Chiêm Thành, dòng dõi nhà vua sau đó nối nhau truyền 16 đời đến năm 1832 thì chấm dứt cùng với việc Panduranga bị vua Minh Mạng nhập hẳn vào đất Việt.