What's new

[Tổng hợp] Kể chuyện Tây Nguyên

namnguyen

Mập
Staff member
Một số hình ảnh về Đà Lạt xưa

8. Thác Liên Khàng, khoảng năm 1925 - 1930 (còn gọi là thác Liên Khương, nay không còn do làm thủy điện)



9. Thác Pongour, khoảng năm 1925 - 1930 (hiện nay không còn nhiều nước do làm thủy điện)



10. Thác Cam Ly, khoảng năm 1925 - 1930



11. Thác Gougah, khoảng năm 1925 - 1930 (nay không còn do làm thủy điện)



12. Quang cảnh khu vực hồ Xuân Hương ngày trước và khách sạn Palace, năm 1948



13. Chợ Hòa Bình (chợ Đà Lạt) năm 1940)



14. Chợ Đà Lạt năm 1950



15. Nhà Địa Dư thập niên 40



16. Hồ Xuân Hương thập niên 50



17.

 

namnguyen

Mập
Staff member
Một số hình ảnh về Đà Lạt xưa

Loạt ảnh về Lycee Yersin (Trường Cao đẳng Đà Lạt) năm 1948

18.


19.


20. Sinh viên trường Lycee Yersin



21.
 

namnguyen

Mập
Staff member
Một số hình ảnh về Đà Lạt xưa

22. Nhà Địa Dư, năm 1948



23. Nhà Thánh Vincent-de-Paul (còn gọi là Nhà thờ Domaine de Mairie) năm 1948



24. Nhà thờ Con Gà, 1948



25. Ga Đà Lạt, 1948



26. Ga Đà Lạt, 1948



27. Đập Suối Vàng, 1948



28. Hồ Xuân Hương, thập niên 50



29. Cầu Ông Đạo, năm 1957



30. Nhà hàng Thủy Tạ 1960

 
Last edited:

namnguyen

Mập
Staff member
Một số hình ảnh về Đà Lạt xưa

31. Giáo Hoàng Học Viện, thập niên 60



32. Chợ Đà Lạt, năm 1961



33. Đường phố Đà Lạt, năm 1961



34. Thác Ponggour năm 1968



35. Trung tâm Đà Lạt năm 1968



36. Đà Lạt, 1969



37. Lycee Yersin, thập niên 60



38. Khu Hòa Bình, 1968



39. Sân bay Liên Khương, 1968



40. Sân bay Liên Khương, 1968

 

namnguyen

Mập
Staff member
Cà phê Tây Nguyên

Định kể chuyện cà phê Tây Nguyên nhưng thật đáng tiếc là ảnh mình chụp hoa cà phê bị mất trong lần hư cái ổ WD. Mấy hôm nay có ảnh hoa cà phê của AnnieLe, mình mượn ảnh để minh họa cho câu chuyện về cà phê Tây Nguyên.

Cà phê xuất phát từ Ethiopia, châu Phi, lan ra các nước Bắc Phi và vùng Vịnh, rồi theo các thương nhân Hồi giáo đến Ý qua Thổ Nhĩ Kỳ. Café góc từ Kahveh của tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, Kahveh gốc từ Qahwa trong tiếng Ả Rập. Đến thế kỷ XVIII, Pháp là nước tiêu thị cà phê nhiều nhất châu Âu, nguồn cà phê chủ yếu cung cấp cho Pháp là từ các nước thuộc địa châu Phi, lớn nhất là Bờ Biển Ngà.

Thể kỷ XIX, người Pháp đến Đông Dương, và các nhà khoa học của họ nhận ra Việt Nam và Lào có thể là nguồn cung cấp cà phê bổ sung cho Bờ Biển Ngà. Cây cà phê được trồng thử để theo dõi đầu tiên là trong Vườn Bách Thảo ở Sài Gòn vào năm 1865 và được đánh giá là hợp thổ nhưỡng. Sau đó vài năm, khoảng năm 1870, cà phê bắt đầu được trồng thành đồn điền ở Quảng Bình và Quảng Trị, đây là nơi trồng cà phê đầu tiên ở nước ta. Tuy nhiên, chất lượng cà phê không được đánh giá cao. Sau đó, cà phê được trồng thử nghiệm ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hòa Bình và Sơn La, nhưng cũng không được đánh giá cao.

Khoảng năm 1890-1892, người Pháp tấn công các bộ tộc ở vùng Đak Lak hiện nay, và sau khi chiếm được, họ mở con đường từ Ninh Hòa lên Buôn Đôn, nay là quốc lộ 26. Sau đó, họ tổ chức lập các đồn điền lớn, trong đó có cà phê. Những đồn điền cà phê đầu tiên ở Tây Nguyên là ở phía Đông Buôn Ma Thuột và Krong Pak ngày nay. Đó là sự khởi đầu cho cà phê Tây Nguyên.

Khoảng năm 1912-1914, Công ty Cao nguyên Đông Dương (Compagnie des Hauts Plateaux Indochinois - CHPI) và Công ty Nông nghiệp An Nam (Compagnie Agricote d'Asie - CADA) mới đầu tư trồng 260ha cà phê từ km 18 đến km 34 ven quốc lộ 21 (nay là quốc lộ 26). Đó là thời điểm cà phê được người Pháp chính thức trồng tập trung, quy mô lớn tại Buôn Ma Thuột. Cà phê Buôn Ma Thuột được đánh giá là ngon hơn hẳn cà phê Bắc Phi, và người Pháp tiến hành nhân rộng ra một vùng rộng lớn, phía Nam mở rộng đến ĐaK Mil và Di Linh, phía Bắc mở rộng đến Kon Tum.

Đến năm 1925, có khoảng 30 đồn điền cà phê của Pháp được thành lập ở các vùng xung quanh Buôn Ma Thuột, mỗi đồn điền rộng từ vài chục đến hàng trăm hécta.

Trong "Địa chí tỉnh Đăk Lăk" ấn hành năm 1931, Fleur đã mô tả đồn điền cà phê CADA - Công ty Nông nghiệp An Nam như sau: "Công ty Nông nghiệp An Nam có một nhượng địa rộng 8.000 mẫu tây, khai thác được 1.800 mẫu, trồng cà phê 1.000 mẫu, chè xanh 800 mẫu ... Công ty có những cơ xưởng lớn sửa chữa máy móc, nhà để xe, kho tàng, nhà ở của giám đốc, chủ đồn điền... tất cả đều rộng rãi, an toàn và có điện thắp sáng. Nơi ăn ở của công nhân bản xứ tập trung ở hai ngôi làng lớn là Ea Knuêk và Ea Yông. Các đồn điền đều có triển vọng tốt đẹp, cây cà phê được trồng và chăm sóc tốt...".

Chú thích: hai làng trên nay thuộc Krong Pak
 

namnguyen

Mập
Staff member
Cà phê Tây Nguyên

Cà phê được chia thành 3 loại chính:
1 là cà phê Arabica (Coffea arabica), tên tiếng Việt là cà phê chè
2 là cà phê Robusta (Coffea canephora), Việt Nam gọi là cà phê vối
3 là cà phê Liberia (Coffea excelsa), gọi là cà phê mít

Cà phê Arabica được đánh giá cao hơn và có giá cao hơn. Arabica có 2 loại là Moka và Catimor. Việt Nam gọi là cà phê chè do loài cà phê này có lá nhỏ, để thấp giống cây chè.
Brasil và Colombia là 2 nước xuất khẩu cà phê Arabica nhiều nhất.
Cây cà phê Arabica ưa sống ở vùng núi cao. Người ta thường trồng nó ở độ cao từ 1.000-1.500 m. Cây cà phê trưởng thành có thể cao từ 4–6 m, nếu để mọc hoang dã có thể cao đến 15 m. Quả hình bầu dục, mỗi quả chứa hai hạt cà phê.
Cà phê Arabica sau khi trồng khoảng 3 đến 4 năm thì có thể bắt đầu cho thu hoạch. Thường thì cà phê 25 tuổi đã được coi là già, không thu hoạch được nữa. Thực tế nó vẫn có thể tiếp tục sống thêm khoảng 70 năm. Cây cà phê Arabica ưa thích nhiệt độ từ 16-25°C, lượng mưa khoảng trên 1000 mm.
Vị của Arabica là thơm và chua chuyển sang đắng.

Việt Nam ban đầu trồng Arabica, nhưng vùng trồng chỉ cao khoảng 500-1000m. Hơn nữa, Arabica hay bị sâu bệnh hơn so với Robusta nên sau này Việt Nam chuyển qua trồng Robusta là chủ yếu.

Cà phê Robusta được gọi là cà phê vối vì cây gỗ, mọc cao, quả hình tròn. Cà phê Robusta phù hợp trồng ở nơi có độ cao dưới 1.000m, Nhiệt độ ưa thích của cây khoảng 24-29°C, lượng mưa khoảng trên 1.000 mm. Cây cà phê vối cần nhiều ánh sáng mặt trời hơn so với cây cà phê chè.
Robusta có nhiều caffein hơn, vị đắng hơn, đậm hơn nhưng ít thơm hơn Arabica.

Cà phê Liberia gọi là cà phê mít vì cây cao trên 2m, lá to. Vị Liberia chua nhiều hơn Arabica. Đặc trưng của cà phê mít là cây có khả năng chịu hạn cao, thân cao, to, chắc khỏe, dễ trồng nên hay được trồng làm bờ bao cho các vườn cà phê, và làm gốc ghép các loại cà phê khác.

Hiện nay ở Việt Nam sản lượng Robusta chiếm gần 90%. Arabica chiếm khoảng 10%, và Liberia khoảng 1%. Liberia thường dùng để trộn với Arabica và Robusta.

Người Việt Nam cũng chuộng uống cà phê Robusta hơn vì chuộng vị đắng. Arabica thường bị chê là nhạt và hơi chua. Thậm chí cách rang và cách pha Arabica ở Việt Nam bị đánh giá là làm mất cả vị.
Arabica hơn Robusta ở hương thơm. Để giữ hương thơm của Arabica, các công ty ở châu Âu, châu Mỹ, nói chung là trừ Việt Nam sẽ rang Arabica trong nồi kín, còn Việt Nam lại hay cho vào chảo lớn, rang và đảo, như vậy mất đi rất nhiều hương thơm. Arabica cũng không phù hợp với cách pha phin, mà hợp với pha bằng áp suất, hoặc ít ra thì pha bằng vợt hoặc túi lọc.
 

namnguyen

Mập
Staff member
Cà phê Tây Nguyên


Từ khoảng giữa tháng 1, Tây Nguyên vào mùa hoa cà phê. Tháng 1, Tây Nguyên mát lạnh, hoa cà phê thơm nồng len trong không khí. Chạy xe qua những rẫy cà phê ở Tây Nguyên vào mùa hoa cà phê mang lại một cảm giác rất thích thú. Ở những rẫy cà phê lớn và tưới đồng loạt, hoa nở trắng một vùng.

Hoa cà phê mọc trên nhánh, phía trên của lá. Cây cà phê ra hoa nhìn khá lạ mắt, không giống như đa phần những cây khác khi ra hoa. Nhìn hoa cà phê giống như những bông tuyết rơi xuống, đọng trên cành cây.


Ảnh: AnnieLe


Ảnh: AnnieLe​