What's new

Mấy tháng không tiền, lang thang Châu Á, chia sẻ cùng mọi người.

ontheroad

Phượt thủ
Những câu chuyện dưới đây được viết dựa trên 2 cuốn hồi kí trên đường của tôi hồi năm ngoái! Nếu mọi người thấy không quá nhàm chán, tôi sẽ tiếp tục Post.

Lúc này, kĩ năng tìm kiếm một người Việt nơi xứ lạ của tôi đã khá thành thục, vì thế mà chẳng mấy khó khăn để quen anh và xin một công việc khi xe trả đoàn ở một khách sạn gần sân vận động quốc gia Olympic, nội ô thành phố Phnom Penh. Tôi phát hiện ra anh là người Việt vì anh hút thuốc con mèo, làm quen được với anh vì tôi rành Mỹ Tho, quê hương anh, nơi xưa kia trái rượu dừa của tôi từng thống lĩnh thị trường du lịch Tiền Giang, và tôi biết anh có thể cho tôi một công việc bởi vì trông anh rất có dáng ông chủ.

Anh bố trí cho tôi làm chân giao hàng và lắp đặt ăng-ten, chảo Parabol và đầu kĩ thuật số phát kênh Việt Nam. Một tuần bao ăn ở, tôi nhận lương 50 USD, tôi cũng nói rất rõ với anh là chỉ làm khi tới hết hạn thị thực, tức là dưới một tháng.

Bắt tay vào việc ngay sáng hôm sau, tôi cùng anh và tài xế tới giao hàng, nhân tiện tiếp thị ở Kampong Chàm, một thành phố phía đông bắc Campuchia. Tôi chẳng biết tiếng nên chỉ làm được mỗi việc là ôm cái cây ăng ten, cố gắng chao làm sao cho đúng hướng để ti vi nét, như thế thì việc chào hàng mới hiệu quả. Chuyến đi thành công làm anh vui, tôi vui, tài xế cũng vui, có thêm những đơn đặt hàng vào ngày mai, anh sẽ gửi xe khách xuống cho họ. Anh nói, đánh xuống đây là đúng hướng, vì ở Phnom Penh cạnh tranh quá, lời lãi không ăn thua.

Từ Kampong Chàm về đến Nam Vang mất gần ba tiếng, đến 9h đêm chúng tôi về tới nhà, anh lại kéo vào quán lẩu ven sông làm vài chai bia Angkor, gọi là lễ nhập môn cho tôi. Đường dài thấm mệt làm bia nhanh ngấm, tôi đăm chiêu nghe anh trải lòng mình. Anh đang có cô vợ ngoan hiền và một bé gái dễ thương, nhưng đó không phải là người phụ nữ anh yêu nhất đời. Ngày đó ở Vũng Tàu, cả vùng chỉ có mình anh làm ăng-ten nên kiếm miếng ăn cũng dễ. Công việc tiến triển, anh dồn hết cả vốn liếng mở một xưởng sản xuất khang trang ngay gần bãi biển. Người phụ nữ đẹp chối lời cha, từ bỏ cuộc sống tụ họp sung túc bên kia bán cầu, theo anh về đây vun đắp hạnh phúc lứa đôi. Tình yêu thăng hoa, hai người đã có một sinh linh hai tháng tuổi sắp có hình hài. Nhưng tạo hóa trêu ngươi, cơn bão số 9 quét qua thành phố Vũng Tàu tháng chín năm ấy mang đi cả cơ nghiệp đời trai. Sau cơn bão, chị bỏ đi biệt tăm không lời từ biệt, chỉ nói vì thương anh. Còn anh, khốn khổ bỏ lên Sài Gòn với nắm vé số ngày ngày bán dạo mong tìm được yêu thương. Mải miết kiếm tìm lại ngơ ngác cô đơn, lúc anh buông xuôi trở lại cố hương thì chị tìm về. Chị đưa anh mười triệu trong nước mắt, em biết anh có năng lực, anh cầm lấy tiền này làm lại từ đầu. Còn anh chỉ ré lên như con thú hoang cùng đường - Con anh đâu rồi?

Nói đến đây, thấy anh chớp mắt không thôi, đỏ hoe. Tôi hỏi: “Thế là chị ấy đã đi đâu?” Anh cười nghe thảm hại hơn một tiếng nấc tức tưởi: “Nó đi làm gái bao, nhưng làm gái vì anh.”

Dòng sông Tonle Sap hiểu tiếng người nên vỗ sóng đánh cái ào vào chân bờ.

Có thân phận đi ngang cuộc đời chỉ qua một câu chuyện nhỏ nhưng sẽ cứ da diết mãi trong kí ức mỗi khi tôi nghĩ đến. Từ việc làm đĩ đến chuyện hi sinh vì một ai đó sao nghe dài vô tận mà người ta cứ thích đo đếm bằng những giọt nước mắt mau khô. Tôi thương chị và hận lòng bao dung nhỏ nhặt của đàn ông.
*
* *
Một ngày công ty du lịch Lucky vắng khách, tôi đến lắp đầu thu kĩ thuật số phát sóng kênh Việt Nam cho chị. Chị kể tôi nghe chuyện gia đình, công việc, trên trời dưới biển, tôi kể chị nghe chuyến đi của mình. Chị thích chụp ảnh, nên in nhiều bức treo lên tường. Chị thích thú với những cái tên và lời bình tôi ngẫu hứng đặt cho mấy bức hình đó. Bức Con nước về hồ, bức Ra khơi, bức Mặt trời sắp rớt, tôi thích nhất là bức Người ở lại, đúng là chị chụp rất đẹp.

Tôi định ra về nên chào chị: “Bữa nào có điều kiện, chị cho em làm hướng dẫn viên du lịch với nhé, em khoái việc đó lắm.” - “Ơ thiệt không? Chị đang cần một hướng dẫn nè, em biết tiếng Anh không?” - “Chị test thử đi.”

Những ngày đầu ở Đại học Ngoại thương, tôi sợ môn tiếng Anh lắm, đặc biệt là tiết mục nghe, nói. Cái đài casset thực hành kĩ năng nghe của cô giáo như đẩy khoảng cách giữa tôi và lũ bạn thành phố ra xa. Thực sự là chẳng nghe được gì. Vốn có tính giấu dốt tích cực, giờ tiếng Anh lên lớp tôi lủi thủi một mình bàn cuối, về nhà cắm cổ cày xới. Căn gác trọ của tôi lúc nào cũng oang oang tiếng Anh, từ toilet cho tới đầu giường, chỗ nào cũng dính những tấm giấy note ghi từ mới. Cuối học kì một, tôi đạt điểm cao hàng nhất lớp: 9, 6, 9, 10 cho bốn kĩ năng, đúng là nói thì vẫn còn hơi kém.

Vậy nên với yêu cầu công việc không quá cao của chị, tôi đáp ứng được.

Tôi nhận một công việc mới thú vị hơn sau hai tuần với hãng ăng-ten. Tôi phải cảm ơn anh và chỉ nhận một nửa thù lao hai tuần làm việc, nhưng anh nhất nhất không chịu, trả đủ tôi 100 USD và chúc mừng tôi nữa.

Nam Vang rất nhỏ, ít nhất là so với Hà Nội và Sài Gòn, thế nên hai tuần làm việc ở đủ để tôi thuộc hết đường sá cơ bản. Có con đường Monivong huyết mạch và ba tòa cao ốc nằm rải rác là tôi có thể định vị được hết mọi hướng. Công việc không mấy khó khăn với tôi, chỉ là đưa đón khách từ sân bay hoặc bến xe bus về khách sạn và ngược lại. Thấy tôi chu đáo và thân thiện với khách, chị giao thêm cho tôi dẫn khách tới một số điểm du lịch như Cung điện Hoàng gia, Quảng trường hay Nhà tù Tousleng. Chủ yếu là Tây, thi thoảng có khách Trung Quốc và Nhật Bản.

Hơn một tuần nữa trôi qua thì tôi đã trở thành một anh chàng hướng dẫn chuyên nghiệp, thuần thục các công việc và được mọi người quý mến. Suốt những năm tháng bôn ba trai trẻ, tôi chưa một lần làm thuê mà chỉ xoay quanh các dự án, doanh nghiệp riêng mình, nay tôi mới hiểu thế nào sự thăng tiến, nó cũng có niềm vui nhất định mà xưa kia tôi cứ phủ nhận, cho rằng là chuyện tẻ nhạt. Chị bổ nhiệm tôi làm dẫn khách đường dài, tôi sẽ dẫn một gia đình Mỹ thăm quan Angkor Wat ở Siem Riep, sau đó là Bangkok, Thái Lan.

Tuy đã đến Siem Riep hai lần để tiếp thị ăng-ten nhưng tôi chưa từng ghé Angkor Wat. Tôi chỉ biết đến nơi này với những khu phố Tàu, những làng chài ven biển hồ Tonle Sap, những nông trại nuôi tằm và những cánh đồng lúa gần mùa giáp hạt, à, thêm vài cửa hàng bán tivi và đồ điện tử nữa. Qua tranh ảnh, tư liệu thì biết rằng đây là một quần thể kiến trúc nguy nga tráng lệ của người Khmer xưa kia, bao gồm rất nhiều đền đài thờ phúng các vị thần Ấn Độ giáo.

Xe chuyển bánh trong đêm để du khách đỡ mất thời gian thăm quan. Tôi yêu nền văn hóa Mỹ, thích Rockn’roll, hâm mộ thói tự do đến hoang dại của Jack Kerouac và thần tượng một mẫu anh hùng kiểu miền viễn tây nước Mỹ. Thế nên có rất nhiều chuyện để tôi muốn nghe họ kể từ xứ sở ước mơ ấy. Cũng có hai lần tôi nằm mơ tới Mỹ, có điều chả hiểu sao cái đại lộ Danh vọng mà tôi thấy lại là con đường đất có nhiều cửa hàng băng đĩa lậu, dòng sông Hudson danh tiếng lại đen ngòm và hai bờ nham nhở…

Anh nhân viên khách sạn của công ty đón chúng tôi bằng xe Tuktuk, khách sẽ về tắm rửa rồi bắt đầu chuyến viếng thăm ngay trong buổi sáng. Thời tiết ở Siem Riep không ấm áp như Nam Vang, cơn gió sớm luồn vào khói bụi cuộn chiếc lá khô nghe xào xạo. Trong lúc chờ khách tôi tranh thủ hỏi han cậu tiếp tân một số thông tin về Angkor Wat, đến 8h thì tất cả đã sẵn sàng.

Con đường dẫn tới Angkor trải nhựa mượt mà, vừa đủ rộng để những đoàn xe nối đuôi nhau xuôi ngược. Khoảng hai chục cây số từ trung tâm thành phố Siem Riep, rừng núi xum xuê cây lá soi gương những hồ nước trong ngăn ngắt. Nắng lên, hơi ấm quyện hòa với dư âm lành lạnh của sương sớm làm nức một mùi tinh khôi. Khách nói họ thấy sự khác nhau giữa cái trong lành của thành phố sạch và cánh rừng xanh, tôi đáp lại, đó là sự khác nhau của trái tim tù túng và cánh chim tự do.

Angkor Wat mê hồn người lữ khách từ cái nhìn xa xôi, mặt trời phả nắng xuống đền đài lấp lánh rêu phong. Lối vào chính từ hướng Tây, tức đi thẳng về hướng mặt trời để vào bên trong. Tôi thấy đoàn người trên con đường dẫn vào đền đài đông lắm, cảm giác như cả tôi và họ đang lạc vào quá vãng, đẹp mê hồn. Khmer hẳn là từng rất thịnh vượng. Họ chỉ vào mấy bóng cây thốt nốt trên vũng hồ nhỏ, tôi nói đó là hồ bơi của các công chúa Khmer xưa kia, họ ồ lên thú vị (tôi chỉ tưởng tượng). Bục thang gỗ ọp ẹp đưa chúng tôi vào một lối nhỏ sâu hun hút, có bức phù điêu trên đá dài bằng từ thiên cổ đến ngày nay, nghe đâu là bức tranh đá dài nhất thế giới. Họ nói thấy đẹp nhưng không hiểu, tôi có cơ hội trở thành một giáo viên lịch sử trên từng bước đi, mỗi bước là một biến cố đất trời, thần thánh và nhân loại, dựa theo khúc tráng ca 24.000 câu trong sử thi Raymayana. Bản thân tôi cũng thấy kinh ngạc về điều đó. Tôi thấy mình như đang lạc vào xứ sở Ayodhya huyền bí, sát cánh cùng những người bạn khỉ tiến vào lãnh địa quỉ quái Lanka cứu nàng công chúa Sita xinh đẹp.
“Lady and Gentlemen, vũ trụ bắt đầu từ đây, từ cái rốn của vị thần này, ngài có tên là Vishnu. Khi núi sông trời đất chưa thị hiện, chỉ mình ngài với con rắn nhiều đầu lênh đênh trên biển toàn sữa cùng với sự an lạc tuyệt cùng. Sự biến chuyển chỉ diễn ra trong một nút thời gian vô cùng nhỏ, bắt đầu từ cái rốn của ngài, giống hệt như Big Bang vậy!”


Trích "Trở Lại" - Nguyễn Nhật Lâm. Facebook.com/trolai.vn

Còn nữa....
 

ontheroad

Phượt thủ
Những câu chuyện dưới đây được viết dựa trên 2 cuốn hồi kí trên đường của tôi hồi năm ngoái! Nếu mọi người thấy không quá nhàm chán, tôi sẽ tiếp tục Post.
Họ “Ồ, tiếp theo vị thần này đã tạo ra thế giới như nào?” Tôi rướn người chỉ vào một họa khắc: “Brahma là kiến trúc sư đầu tiên của vũ trụ, ông sáng tạo ra gió, mây, ra rừng, ra biển, một thiết kế vĩ đại như quý vị thấy đó.”

- Chiến tranh à? - Cậu nhóc trong gia đình Mỹ khoái chí với cảnh gươm giáo giao tranh.

- Đây là cuộc chiến đầu tiên của vũ trụ, bắt nguồn một liên minh. Họ, ma quỉ và thánh thần hiệp sức tạo ra một ngọn núi vĩ đại trên biển sữa sau trận đại hồng thủy. Thần Vishnu đã hóa thân thành rùa lớn làm điểm tựa để ngọn núi không bị nhấn chìm xuống đại dương, và họ quay tròn ngọn núi. Chuyển động khổng lồ tạo ra lực tuyến tính, và có lẽ làm cho trái đất quay quanh mặt trời - tôi cười vì sự phóng tác - bản thiết kế của Brahma được bổ sung, hoàn thành, vạn vật có qui luật từ đó…

Họ nói sử thi Ấn Độ vừa giống thánh kinh, vừa giống thuyết vạn vật hấp dẫn, làm tôi cười rõ to, vì thực ra tôi đã sáng tác rất nhiều trong lúc giới thiệu. Chỉ là bức phù điêu của người Khmer, những nhân vật và truyền thuyết của người Ấn Độ, còn cách giải thích tôi lồng ghép chủ quan của mình. Điều quan trọng là tôi sung sướng và họ thích thú là tôi thành công rồi.

Cầu thang dốc đứng và cao tít đưa chúng tôi lên đỉnh cao nhất của ngôi đền. Từ đây có thể hình dung ra kiến trúc tổng thể của Angkor Wat. Giống như một mảng của thiên đình bị rớt xuống rừng sâu vậy. Chợt nghĩ, nàng công chúa ngủ trong rừng trong câu chuyện cổ tích chắc là nằm tại nơi này.

Cảnh đẹp làm cho những vị khách của tôi say sưa chụp hình, họ ôm những bức tượng nhân sư cụt đầu, hôn bức tường đá, nằm dài trên vệ cửa, nhìn họ hồn nhiên hệt những đứa trẻ bên lâu đài cát của chúng vậy.

Mặt trời đứng bóng, chúng tôi đến một di tích khác gần đó có tên là Angkor Thom, hoang tàn hơn Angkor Wat, chỉ có thể ngắm được sự đổ nát của thời gian trên phiến đá. Năm tháng là minh chứng hùng hồn cho tài năng điêu khắc của người Khmer. Cánh cổng dẫn vào từ phía Nam, họ tạc lên đá khuôn mặt Quan Âm từ bi độ lượng, cứ như là chính bà đã hóa thân vào đó để trường tồn.

Họ thích thú khi tôi xin bác lái xe Tuktuk nhường chỗ để mình cầm lái, sau này mỗi lần nhìn lại bức ảnh họ chụp khi tôi đang lái xe quay lại cười, lại thấy lòng rạo rực.

Và tôi sẽ còn nhớ đến ngôi đền Taprom, nơi tước đi tấm bằng hướng dẫn viên du lịch, đẩy tôi vào một chuỗi tháng ngày tột đỉnh của thăng hoa.

Say mê với những hành lang đá kỳ bí, ngắm hình thù kỳ quái của rễ cây đại thụ và tưởng tượng ra con rắn khổng lồ thống trị đại dương bị tướng khỉ đánh bại, trong lúc đắm mình vào cái ao đầy bèo tấm bình dị giữa đền đài kỳ vĩ, tôi mới nhận ra mình để lạc khách. Trở về khách sạn thì cả bốn người khách đã ở đó. Bẽ bàng đến mức không thể nói lời xin lỗi chị, tôi xin nghỉ việc không cần bất cứ đồng lương nào.

Từ khách sạn mất năm phút đi bộ để tới bờ sông, tôi bước tới một cây cầu bằng gỗ có mái che, ở hai bên lòng cầu người ta gắn hàng ghế bắc dài cho du khách nghỉ chân. Bên dưới, dòng nước lập lờ kéo lê vài cái đèn hoa đăng tỏa sáng nhờ nhợ. Có một cái bị mắc vào cọc nhọn, chới với, lạc lõng giữa dòng trôi. Tôi vơ mấy hòn sỏi dưới chân đáp xuống dưới kêu chum chủm, đang nghĩ sẽ giải thoát được cho ngọn đèn yếu ớt ấy. Bỗng “bụp...” hòn sỏi cuối cùng mang theo tất cả buồn tủi của tôi đã rơi đúng giữa nó, cánh giấy mỏng bao bọc đốm lửa leo lét bị co dúm lại, nó chống chếnh lìa khỏi cọc nhọn, cơn gió được đà đẩy ngọn đèn trôi phăng phăng, lửa phập phồng nhìn mãnh liệt hơn hẳn trạng thái ban đầu, nó một mình tỏa sáng trên dòng sông nhợt nhạt. Sự giải thoát hoàn hảo - tôi cười khinh khỉnh, một nụ cười cô độc.

Suốt bốn tuần vui thỏa, cứ tưởng rằng cuộc vui sẽ còn dài mãi, tôi chưa từng nghĩ sẽ có một bữa ê chề như thế này. Người ta vẫn buồn ngay cả khi có tiền (trong túi tôi có tới gần 150USD, 100 đô là tiền lương làm hãng ăng-ten, 50 đô khách du lịch bo khi làm hướng dẫn). Khi xưa những lúc thế này tôi đã làm thế nào nhỉ? À đúng rồi, thường thì tôi sẽ rủ bạn bè, mấy thằng doanh nhân trẻ với nhau, chè chén no say xong kéo ra vũ trường quán bar và kết thúc đêm dài khoái lạc ở một quán massage nhiều chân dài. Nhưng nỗi buồn là thứ nặng thế, không thể hòa tan cùng khoái lạc. Mỗi lần như vậy, sáng nào thức dậy sung sướng hả hê hồi tối cũng bốc hơi bay mất, vài thứ khác bị căn bệnh nhiễm khuẩn đường ruột lôi đi theo đường khác, chỉ còn vón lại một nỗi buồn đặc sệt.


Quá khừ ồ về giày xéo, kéo theo hai thằng con con, thằng lớn cõng thằng bé, mặt mũi lấm lem tiều tụy, nhìn từ đầu tới chân được mỗi đôi mắt thằng anh là bớt u ám. Nó còn loay hoay chưa ổn định được chỗ ngồi cho thằng em trên lưng để giơ tay xin tiền thì tôi đã phủi phui, đi đi không có. Rồi nhận ra mình nói tiếng Việt sợ nó không hiểu tôi nói lại bằng tiếng Anh, “Đi chỗ khác đi, anh không có tiền (I have no money)!!”. Tôi ước gì tiếng Anh có chữ “Tao” để ném vào mặt nó, cho nó ra đi trong ê chề như tôi lúc này. Lòng tự ái chắc chẳng ai dạy được nó, nó quay đi cái mặt thản nhiên chẳng để ý gì đến thái độ hằn học của tôi. Thằng bé em trên lưng còn quay lại nhoẻn miệng cười khanh khách, chừng hai tuổi thôi mà tôi cảm giác nó đã biết cười mỉa mai người khác.

Tôi bất giác nhận ra mình không bằng hai đứa trẻ ăn xin, chúng tiếp nhận một việc không như ý muốn thật nhẹ nhàng, trước tôi chắc cũng có những người từ chối, và sau tôi chắc chắn rồi, sẽ còn nữa, đến hết kiếp ăn mày, vậy mà chúng cứ đi, cứ sống, cứ cười. Đáng chê trách thật, cả một tháng vui vẻ ngập tràn ở cái đất nước Chùa tháp này mới chỉ có mỗi một lần không như ý muốn mà tôi đã khốn khổ như thế.

Tôi đi nhanh theo hai anh em thằng bé, nhét vào tay nó hai tờ 1 đô, lạ thật, thằng bé em trên lưng lại cười, lần này nó cười cái kiểu động viên khuyến khích, kiểu như “tốt lắm anh bạn, cố lên!!”. Tôi xoa đầu, cảm ơn chú mày.

Tôi ngồi xuống ghế đá, gần một chân cầu khác, sẽ tính toán những bước tiếp theo. Chưa kịp nóng chỗ thì có một anh Tây lịch lãm tới:
- Tôi ngồi đây được chứ?
- Tất nhiên rồi, xin mời! Campuchia thế nào anh bạn? - Tôi nhã nhặn và chuyên nghiệp như còn làm hướng dẫn.
- Rất tuyệt, lẽ ra tôi nên đến đây sớm hơn. Ông bạn là người ở đây à?
- À không. Tôi người Việt Nam.
- Thế à, tôi cũng sẽ đến Việt Nam sau khi rời nơi này. Trước đó tôi đã đi qua Malaysia, Thái Lan. Châu Á rất tuyệt. Thế ông bạn làm gì ở đây?
- À, ừ, tôi cũng là du khách.
- Thế ông định đi đâu tiếp theo đây?
- Thì tôi cũng tính đi sang Thái Lan, rồi qua Malaysia - Tôi nhanh nhảu lật ngược cung đường của anh ta làm lộ trình của mình.
- Ồ, thật à? Thú vị thật.

Cũng có nói thêm dăm ba câu chuyện nữa nhưng tôi chẳng chú ý, vì đã tự gieo vào đầu óc mình một ý tưởng thú vị.

Tôi sẽ sang Thái Lan với 145USD, hai cuốn nhật ký còn mới và một cuốn đã được ghi đầy. Ngay trong đêm nay.

Trích "Trở Lại" - Nguyễn Nhật Lâm. Facebook.com/trolai.vn
 

ontheroad

Phượt thủ
Những câu chuyện dưới đây được viết dựa trên 2 cuốn hồi kí trên đường của tôi hồi năm ngoái! Nếu mọi người thấy không quá nhàm chán, tôi sẽ tiếp tục up.

Bạn nghĩ thế nào khi một thanh niên Việt Nam vô tình khiến cho một cô gái Canada bị mắc cỡ? Đó là câu chuyện ở biên giới Thái Lan. Cô gái lúi húi với cái ba lô to tướng không thể cho lên vai được và cầu cứu sự giúp đỡ. Tôi nhanh nhẹn thể hiện hình ảnh đẹp của người thanh niên Á Đông, một tay túm đầu ba lô, một tay túm quai xách, xốc thật mạnh. Và…ro...ạ...c, ngăn trên cùng rách bươm ra cùng với những miếng vải xanh đỏ tím vàng bay tung tóe, một cái còn mắc vào tay tôi. Những gã xung quanh cười như vớ được của, cô nàng thì đỏ mặt tía tai lặng lẽ cúi xuống vơ đám underwear luôn miệng nói “I’m sorry, I’m so sorry”. Tôi thì thắc mắc là tại sao người ta lại cần nhiều thứ đó đến vậy, cả mấy chục cái.

Đại lộ thênh thang, mấy cây cầu vượt cong queo nhiều tầng, và cao ốc tua tủa, tôi biết mình đã tới Bangkok. Việc đầu tiên là liên lạc với một người bạn của bạn ở đây để nhờ xin một công việc và chỗ ở tạm thời. Anh tên Boy. Boy nói vợ anh vừa mới sinh con gái và giới thiệu cho tôi đường Khao San có nhiều khách sạn rẻ, anh sẽ tới đón tôi vào ngày mai.

Lang thang suốt một buổi chiều trên những con phố du lịch, những công viên và bờ sông mà chẳng tìm được xúc cảm gì đặc biệt, tôi quyết định bỏ ra 90 bath để mua một chai bia Chang thiệt lớn. Khoảng 11h đêm, mọi ngả đường vẫn tấp nập, Khao San vẫn uỳnh uỳnh nhạc dance, chỉ có con hẻm tôi ngồi là yên ả. Tôi là vị khách duy nhất trong quán bar vỉa hè cuối con ngõ vắng này. Anh chủ quán niềm nở lấy bia và bật nhạc. Tiếng kèn Harmonica quen như kỷ niệm làm tôi bất giác thốt lên “Neil Young”. Tôi ngưỡng mộ giọng ca và tiếng đàn của ông. Thuở ấy, vui lắm. Sáng sớm khi tỉnh giấc, bọn tôi súc miệng bằng một bản tình ca ngọt ngào của Neil Young, bữa trưa thường là bún đậu mắm tôm và một chai bia Hà Nội. Buổi tối sau khi lang thang trà đá ở khu nhà thờ hay nhà hát Lớn, về đắm mình trong tiếng đàn hoang dại của Jimi Hendrix, rồi sau đó là bén duyên với cái nghề tổ chức sự kiện. Tôi làm bầu show ở tuổi 20, dẫn ban nhạc và cô ca sĩ của mình đi khắp nơi biểu diễn. Rồi cũng tự mình tổ chức những Liveshow hoành tráng, ôi bỗng dưng nhớ thế, ánh đèn sân khấu, và cả các anh nữa.


Tôi rảo bước khỏi mớ kỉ niệm, đi về phía dòng sông Chao Praya. Chân cầu có lũ chó hoang quấn quít bên mấy người vô gia cư. Leo lên ba tầng cầu thang, có một con chó vàng theo tôi đến tận giữa cầu. Sông đầy nước, cầu đầy gió, trời đầy sao. Ô kìa, tôi thấy rất rõ mấy chòm sao bên cạnh Bắc đẩu thất tinh. Sao Regulus hôm nay sáng lạ thường. Ngày ấy, khi còn yêu nhau, ở giữa cầu Rạch Miễu, em chỉ lên trời nói như một định mệnh “Em thích ngôi sao kia, mai này lỡ có chia tay nhau, nhìn lên trời thấy sao đó thì nhớ tới em nhé.” “Sao đó là trái tim mãnh thú, sáng nhất chòm sư tử”, tôi ngậm ngùi giải thích như chấp nhận lời em. Không ngờ điều em nói sau hai năm lại xảy ra ở nơi xứ lạ này. Gấp một con hạc giấy, tôi thả nó quay quay, lòng thầm cầu mong em bình yên.


Có đám đông phía trước, tôi tiến lại rẽ vòng người thì thấy cô gái đang nghẹn ngào than khóc, cô đã bước ra ngoài lan can, cái chết sẽ đến, cô gái chỉ cần buông tay. Họ nói bằng tiếng bản địa, đoán là mấy lời can ngăn, có người đàn ông tiến lại gần hơn trong tiếng gào khóc của cô gái đau khổ. Và cô buông người, đôi cánh tay quay quay như cánh hạc giấy. Mọi người xô đẩy nhau tràn ra phía lan can, tiếng kêu la không ngớt.


Mắt tôi mờ đi, mọi âm thanh nhốn nháo, hỗn loạn xa dần tâm trí, tôi đang bị một hồi ức buồn kéo trôi tuột về quá khứ. Hồi đó còn bé lắm, chắc chỉ chưa tới lớp một. Cả làng có tôi với thằng Nam là hay đi dép, đường đất sau cơn mưa làm bẩn mất chiếc dép quý giá, tôi lúi húi lấy que gỡ đất bùn trên đế dép, còn nó sạch sẽ nên xuống cầu ao rửa. Mẹ bảo là ông thuồng luồng bắt nó, chứ tôi biết nó chỉ cố với cái dép xốp trắng phau bị trôi khỏi tay nên trượt xuống ao. Tôi gào lên gọi nó khản cả cổ, nó chỉ đáp lại tôi từ dưới nước bằng tăm bong bóng phun lên ầng ậc. Mãi khi có người lớn ra, mò nó lên, họ nói nó chết đuối rồi.

Chỉ nhớ được ngần đấy diễn biến, còn tôi không hiểu mình đã trút bỏ ba lô phi xuống dòng nước như thế nào. Con sông thơ mộng giờ trở nên hung hãn với một cô gái cùng đường, sóng đánh tới tấp vào mặt làm cho tôi không thể nhìn thấy dấu hiệu bất thường nào để tìm kiếm cô gái trẻ. Cắm mặt bơi như điên về phía khả nghi, đúng là cô gái, tôi nắm tóc cô lôi về một trụ chân cầu cách chừng vài sải tay. Cái ôm ghì siết hoảng loạn đến nghẹt thở của cô làm tan cả giá lạnh mà con nước ngấm vào hình hài ướt sũng. Có lẽ là cô đã được cứu, ca nô cứu hộ chỉ đến sau nửa phút.

Họ đưa chúng tôi lên bờ thì xe cứu thương đã ngoao ngoáo chờ sẵn, đám người chỉ trỏ xì xèo thứ tiếng địa phương, có người đàn bà đưa tôi cái ba lô của mình. Tôi hân hoan bước đi khước từ sự trả nghĩa từ gia đình cô với ân nhân của họ. Niềm hạnh phúc, đó là sự đáp lễ hào phóng nhất mà cuộc đời ban cho những việc làm tử tế của con người.

Đêm đó tôi ngủ cùng một người vô gia cư ở giữa vòng xoay ngã tư đường, dưới chân cái chòi canh của cảnh sát.

Tôi chưa từng thấy ở đâu lại nhiều người vô gia cư như cái thành phố này. Ông là người Thái không biết tiếng Anh, làm quen với nhau bằng điếu thuốc và cái bật lửa, sau đó cuộc trò chuyện diễn ra một tiếng giữa ông và tôi chỉ bằng tay chân. Tôi xòe cái bản đồ Asia mới xin ở trung tâm hỗ trợ khách du lịch và chỉ vào Việt Nam, ông hiểu và gật đầu, tôi lại chỉ vào ông rồi lấy tay vê một vòng quanh nước Thái, ông chỉ vào một điểm thuộc miền bắc Thái Lan. Tôi lại vẽ nguệch ngoạc hình hai cha con nắm tay, nhìn ông bày tỏ nghi vấn, ông đưa 5 ngón tay. Ông hất cằm về phía khách sạn to đùng phía trước rồi hỏi tôi, tôi lôi vài xu bath lẻ xua tay. Cứ thế mà chúng tôi nói được rất nhiều chuyện. Ông bảo ở quê nhà nghèo, con cái cũng nghèo nên phải lang bạt ở Bangkok, ngày nhặt ve chai, tối ngủ vỉa hè, bẩn quá thì ra công viên tắm, đái ỉa vào ban đêm lúc vắng người. Và sáu giờ sáng thức giấc tôi thấy ông ngó nghiêng rồi ngồi xuống lùm cây thấp thẹ, đi tiểu như một ả đàn bà, chuyển đổi giới tính bằng cách này nghĩ mà chua xót kiếp người. Còn ai đó muốn dấn thân trên đường thì tôi chia sẻ thêm một tác dụng ít người để ý của tấm bản đồ du lịch, đó là làm manh chiếu ngủ.


Trích "Trở Lại" - Nguyễn Nhật Lâm. Facebook.com/trolai.vn
 

ontheroad

Phượt thủ
Những câu chuyện dưới đây được viết dựa trên 2 cuốn hồi kí trên đường của tôi hồi năm ngoái! Nếu mọi người thấy không quá nhàm chán, tôi sẽ tiếp tục up.
Chiều hôm ấy tôi gặp anh Boy, ngủ trong căn biệt thự sang trọng, ăn những bữa cơm gia đình. Anh thật tử tế với một người khách lạ như tôi. Lúc chia tay anh nhét vào ba lô tôi ba gói mì tôm, một bịch sữa và mấy cái bánh ngọt, những món quà nhỏ và ý nghĩa đó tôi biết anh đang gửi ước mơ thời trai trẻ vào mình.

Theo sự hướng dẫn của Boy, tôi đi bộ dọc theo đại lộ Sathon Tai để tới cửa ngõ chảy vào thành phố của dòng sông Chao PrayA. Đi bộ được khoảng 6km thì tới chân cầu Somdet Chao Taksin, tôi dự kiến sẽ về Khaosan Road để kiếm một vài thông tin đi lại trong mấy văn phòng tour, không có lối cho khách bộ hành nên đành phải trút hầu bao 18 bath để lên một con đò, nhưng hóa ra thế lại hay vì hoàng hôn trên dòng sông này đẹp hơn tôi tưởng. Tôi căng mình đón cơn gió lớn mang theo hơi nước lành lạnh, sóng vỗ phành phạch bắn tung tóe vào hoàng hôn đỏ ửng. Cao ốc nhan nhản khắp nơi ở Bangkok, thi nhau đổ bóng xuống dòng sông, cao thấp, nhấp nhô, lập lờ, nhìn thật thú vị. Phía xa có một tháp nhỏ hình chuông trắng muốt, dưới ánh chiều tà thỉnh thoảng nó lại ửng hồng lên như gò má giai nhân. Giống như những lòng hồ Hà Nội, sông Chao Praya là tâm hồn Bangkok. Con nước cặm cụi xuống xuống lên lên mang đi tất cả những ồn ào nghiệt ngã của một đô thị hiện đại, mang về bao sâu lắng mộng mơ của nỗi lòng lữ khách tha hương.


Đò chui bốn cây cầu thì tới bến, tôi thả bước theo hành lang nhỏ, thèm một chai bia và một người bạn mới. Ngước lên trên cầu Somdet Phra Pin Klao chợt nhớ đến chú chó vàng và cô gái trẻ, thầm mong cô khỏe mạnh và đi qua muộn phiền. Tôi cười riêng mình thì người đàn ông trạc năm mươi tuổi vừa bước lên đuôi thuyền lại nghĩ cười với ông. Ông hello và tôi cũng đáp lại bằng một nụ cười đầy dụ ý, đúng như tâm niệm của mình, người đàn ông mời tôi lên thuyền, mâm đã bày sẵn một con cá hấp thơm phức, bốn chai bia Leo và một cút rượu. Đó là con thuyền du lịch dành cho khoảng hai chục hành khách, còn ông là người lái thuyền. Mặc dù trình độ tiếng Anh của cả hai đều kém như nhau nhưng xem ra cũng đủ để chia sẻ nhiều thứ. Tôi được một bữa no say, trên thuyền thỉnh thoảng lại phá lên tiếng cười của hai người bạn mới quen. Ông mời tôi ngủ lại trên thuyền, sóng trên dòng sông Chao Praya về đêm bồng bềnh chao đảo, làm tăng thêm cảm giác đê mê của người say men rượu.


Tỉnh giấc bởi một tiếng còi tàu kèm theo sóng lớn bất thường, tôi thấy ba lô vẫn nằm cạnh mình, người lái thuyền dường như đã dậy lâu rồi, ông đang phơi đồ. Tôi tới nói chuyện vài câu rồi giã biệt. Ông chắp tay chào, chúc tôi chuyến đi như ý, còn nói thêm ước gì con trai ông được như tôi. Quay đi bước về hướng công viên Công Chúa, tôi chợt nhớ về cha mình. Có bao giờ ông cũng nhìn ai đó và ước tôi như thế. Tôi cá là nhiều, như mấy cậu nhân viên ngân hàng chẳng hạn. Năm tôi học lớp 4, ông lôi tôi ra và nói mày lớn rồi, tao sẽ không đánh mày nữa, năm lớp 8, tôi làm mất chiếc xe mini Nhật mà cả nhà dành dụm mãi mới mua được, ông không la mắng một câu. Nhưng ngày tôi bỏ đại học đi theo tiếng gọi con tim, ông nói không dạy được tôi, muốn làm gì thì làm, miễn đừng ảnh hưởng tới gia đình. Khi tôi thất bại trong kinh doanh, ông nói mày không bao giờ thành công được. Để đến bây giờ, mỗi lần nhìn thấy cảnh cha con ai đó dắt tay nhau trên đường tôi lại phải ngậm ngùi mơ ước.

Tôi nhiều lần thắc mắc tại sao ông cho tôi cái quyền hành lớn thế hồi còn lớp bốn, lớp tám mà khi tôi trở thành một thằng con trai hơn mười tám tuổi ông lại không muốn chấp nhận những gì tôi học được từ sự dạy dỗ của chính ông. Rồi ông sẽ nghĩ sao nếu biết tôi đang lang bạt xứ người với sự tự do không giới hạn và niềm hân hoan trên từng góc phố, khu rừng. Tôi vẫn ước một buổi chiều đẹp trời sẽ cùng ông trên chiếc Zeep lùn, hai cây súng hơi, một cái máy ảnh, hai bố con sẽ lên đường đi săn như ước mơ của ông hồi trai trẻ.

Tôi đã quyết định rời Bangkok đi về phía Nam, có lẽ sẽ dừng ở Phuket để trải nghiệm thiên đường du lịch Thái Lan. Bốn ngày ở Bangkok tôi đã tiêu hết một nửa số tiền 3000 bath đổi từ 100 USD hôm cầm từ Campuchia, để tiết kiệm chi phí, tôi quyết định đi bằng miệng thay vì mua vé xe bus 600 bath. Tức là xin đi nhờ xe trên đường.



Trích "Trở Lại" - Nguyễn Nhật Lâm. Facebook.com/trolai.vn
 

ontheroad

Phượt thủ
Những câu chuyện dưới đây được viết dựa trên 2 cuốn hồi kí trên đường của tôi hồi năm ngoái! Nếu mọi người thấy không quá nhàm chán, tôi sẽ tiếp tục up.

Ngồi trước biển đêm ngắm bầu trời đầy sao. Dưới chân, những cơn sóng ồ ạt dọa dẫm một cách vô hại như con chó trung thành đùa giỡn với chủ. Biển Phuket về đêm đen thăm thẳm và bất tận như bất cứ biển ở nơi đâu. Không có muỗi, chẳng có người, chỉ mình tôi với bờ cát im lìm nhẫn nại ngắm nhìn những con sóng hiếu động dưới chân. “Hôm nay đẹp zời! ” Tôi thầm nghĩ rồi mơ màng nhớ tới Midori, cô gái Nhật xinh đẹp, kì lạ. Tất cả diễn ra trong một ngày, tôi đã được trải qua đầy đủ những cung bậc của một thằng đàn ông yêu, được yêu, chia ly, hội ngộ và dâng hiến.

Từ Bangkok phải mất tám lần lên xuống những chiếc xe vẫy đi nhờ trên đường tôi mới tới được miền Nam Thái Lan – thành phố Nakhon Si Thammasat, chỉ cách Phuket chừng 3 tiếng đồng hồ. Là một thành phố tỉnh lẻ nhưng nơi này cũng nhiều ô tô, ít xe máy hơn bất cứ đô thị sầm uất nào ở Việt Nam. Tôi tới đây chừng 5h sáng, trên chiếc xe bán tải Dmax của một chủ thầu xây dựng địa phương do vẫy xe xin đi nhờ khi ông đi từ Surat Thani về, ông biết tiếng Anh. Tôi nói muốn xin một công việc để có chỗ ăn chỗ ở và kinh phí đi tiếp, ông nhận tôi vào làm trong công trường, công việc chẳng liên quan đến chuyên ngành như chất gạch lên ròng rọc, tưới nước, giữ thước đo và sai vặt. Chỉ khi giúp ông tính toán đúng chu vi của vòm cửa căn nhà thì ông mới đối đãi tôi như một vị khách, mặc dù đó chỉ là một bài toán hết sức đơn giản mà thằng học sinh lớp 8 nào cũng có thể giải. Công trình đang xây là ngôi nhà kiểu Villa, bên cạnh con đường lớn, nơi đối diện có văn phòng du lịch nhỏ, tôi đã ngắm nó cho vài kế hoạch khi có tiền.

Đang hí hoáy với cái vòi nước thì có đoàn khách tây tới chụp hình, khi ống kính xoay về mình thì tôi nghĩ họ đang chụp một chàng công nhân xây dựng khôi ngô nhất mà họ từng gặp. Cầm vòi nước quay người lại định khóa van, tôi suýt xịt vào một cô gái châu Á. “Ồ, xin lỗi, xin lỗi cô”. Tôi nói bằng tiếng anh, cô gái cười mê hoặc, rồi xua tay, không vấn đề gì. Thật bất ngờ trước nhan sắc của cô gái, tóc cô loăn xoăn vàng như mùa thu xứ sở bạch dương, đôi mắt tròn tựa bông hoa xuyến chi đang độ xuân về, và làn da trắng muốt. Phải mất vài giây để trấn an vì đã khá lâu rồi tôi mới gặp một phụ nữ đẹp như thế. Những tháng ngày bụi bặm làm tiêu hao đi tính sĩ gái, thay vào đó là sự tự nhiên một cách chuyên nghiệp, tôi tiến tới làm quen mà quên cả việc mình đang nhếch nhác thế nào. Tiếng Anh của nàng hơi kém, đẩy vị thế của tôi hơn chút. Mọi chuyện bắt đầu như vậy đó, tôi đọc được sự bất ngờ trong mắt nàng khi nhờ tôi chụp giùm một tấm ảnh, nàng tay cầm dao xây, tay cầm gạch. Con Nikon D50 này tôi đã sử dụng gần một năm trời, thế nên có thể chụp cho nàng một tấm ảnh nghệ thuật một chút là chuyện trong tầm tay. Và, nàng tên Midori, đến từ xứ Anh đào, tới Thái Lan du lịch trong kì nghỉ một tuần, Phuket là điểm cuối cùng trong hành trình ấy, nàng sẽ trở về Nhật Bản sau 2 ngày nữa.

Nàng tưởng tôi là dân bản địa nên chìa cuốn Lonely Planet hỏi về Patong Beach và cửa hàng cho thuê đồ lặn Kata Diving Centre ở Phuket. Tôi nói không biết nhưng bảo nàng hãy đón một chiếc Tuktuk và hỏi lái xe.

Gần ba chục phút tán gẫu chuyện trò, chiếc xe bus trung chuyển cũng đến và mang nàng đi, tôi thấy sự luyến lưu trên khuôn mặt ấy, và tất nhiên rồi, tôi cũng vậy, chỉ còn biết dằn vặt mình không xin email hoặc Facebook. Ba mươi phút ngắn ngủi hâm nóng trái tim đa cảm của người lữ khách độc hành tha hương.

Buổi tối đó, sau bữa ăn cùng Surat (chủ thầu), anh hỏi tôi có muốn đi Phuket trong ngày mai không vì có xe tải từ công trường chở vật tư xuống đó vào sớm mai. Làm sao có thể chối từ được cơ chứ, hơn thế nữa Surat còn trả tôi 1000 bath cho năm ngày lao động chả mấy vất vả, thật hào phóng. Tôi nghĩ về Phuket và thầm mong một cuộc tái ngộ tình cờ thú vị.

Đúng bẩy giờ sáng hôm sau, tôi có mặt ở trung tâm của Patong beach, hỏi đường đi về phía biển lòng thấy háo hức vì khá lâu rồi tôi không thấy biển. Tôi nhớ nguyên vẹn cái mùi tanh dễ chịu và sự mênh mông đầy quyến rũ của nó. Cô gái Thái bên quầy bán báo cho tôi hay chỉ mất năm phút đi bộ. “Thế cho tôi hỏi thăm 7elevent Shop ở đâu với ạ ?” - tôi hỏi thế vì muốn mua một chai nước. “Đi thẳng, một phút đi bộ, anh thấy biển Kata Diving Centre kia không? Đối diện đó.” “Kata Diving Centre?” Tôi hỏi lại giọng hơi lớn, có kèm chút cảm xúc làm cô gái bất ngờ, “yep” – cô nhún vai.

Có vẻ như dự cảm của tôi không sai, tôi sẽ gặp Midori ở đây, cửa hàng cho thuê đồ lặn của người Nhật. Quên cả mua chai nước, tôi tiến thẳng vào bên trong và hỏi thăm xem có khách nào tên như vậy, người như vậy đến đây không. Ông chủ tiệm lắc đầu rồi đưa cho tôi hai tờ cataloge giới thiệu về dịch vụ. Tôi đón nhận chúng, vô nghĩa như nhận tờ giấy trắng, giấy trắng có lẽ còn tốt hơn vì có thể viết được gì đó.

Tưởng chừng, cánh cửa kính kẽo kẹt tống tiễn tôi ra khỏi mộng tưởng thì bất thình lình “DonLam”. “Midori”, cả hai cùng reo lên mừng rỡ, nàng vừa mới từ khách sạn tới đây để đăng ký. Chúng tôi đã ôm nhau, dường như chặt hơn cái cách mà những người bạn vẫn làm.

Để có thể lặn ngắm san hô ngoài biển, người ta phải thực hành trước hai ngày ở bể bơi, tôi giả bộ lấy làm tiếc nuối vì ngày mai phải lên đường, lí do để từ chối không thể cùng Midori đăng kí.

Khóa học buổi sáng của Midori kéo dài 3 tiếng, đến 11h thì kết thúc, tôi cùng nàng đi dạo trên bãi biển, những câu chuyện được chắp vá bằng ngoại ngữ và cử chỉ rất thú vị, đúng là tiếng Anh của nàng hơi kém.

Tôi đã chi trọn số tiền lương năm ngày làm công nhân xây dựng cho hai bữa ăn hải sản và vài thứ lặt vặt cùng nàng, một sự lãng phí đầy lãng mạn.

6h chiều, sau khi ăn xong ở một nhà hàng ven biển, tôi và Midori lại thả bước đi dạo trên bờ cát, hàng thông cùng đại dương tạo thành dàn hợp xướng hân hoan khúc ca tình ái. Những khách tây rả rích rời bãi biển, bao cô nàng trắng muốt với những bộ bikini nóng bỏng chẳng làm tôi bận lòng, vì tâm trí giờ ngập tràn hình ảnh người con gái Nhật bản. Đến 7h thì đã không còn một bóng người, tôi và nàng ngả lưng trên một ghế dài, thả hồn vào biển đêm mênh mông huyền bí.

Tôi giả bộ đụng vào tay nàng vốn đang rất gần tôi, không thấy phản ứng gì, lòng tôi dấy lên một mớ rộn ràng kì lạ, như thể lần đầu tiên chạm vào tay một phụ nữ vậy. Dồn hết can đảm, tôi nắm tay nàng, làm như cồn cào và mãnh liệt lắm. Nàng vẫn lặng thinh, im lìm như bờ cát dài yên ả. Tôi vồn vã chẳng khác nào con sóng dưới chân.

Đang lim dim toan tính những gì tiếp theo thì nàng đè cả tấn bất ngờ lên lồng ngực tôi, rồi mọi thứ mềm dần ra như nhung lụa, tôi cảm nhận được môi nàng, hơi thở nàng, và ngực nàng, cồn cào, nhịp nhàng và mê đắm. Nụ hôn bị động làm luống cuống đời trai. Một lát sau, mọi chuyện lặp lại, nhưng lần này tôi chủ động, vẫn y nguyên, vẫn ngập tràn, vẫn đê mê ngây ngất, tôi chỉ có thể diễn tả đến vậy.

Đến 8h, con sóng lên tới chân thúc giục người về. Tôi biết mọi chuyện đã đến hồi kết thúc, số tiền còn lại trước đó, không bao gồm chi phí ga lăng tôi đã mua một tấm vé xe bus tới Kuala Lumpur thủ đô của đất nước True Asia - Malaysia vào sáng mai, chỉ còn lại đúng 50 bath, một phòng khách sạn hạng xoàng không máy lạnh ở thành phố này cũng khoảng 400 bath. Tôi đưa Midori về tận khách sạn, tạm biệt với lí do việc riêng, hẹn gặp nàng ở Hamamatsu, quê hương nàng.

Trở lại một mình với biển, ôn bao hạnh phúc trên chặng đường dài, tôi thấy có sự giống nhau, giữa cuộc tình một ngày và tình yêu dài năm tháng, giữa nụ cười, lời chúc phúc trên đường và sự quan tâm mãi mãi…nó giống nhau ở chỗ là sẽ đều đi qua, dài nhất thì cũng chỉ đến cái mốc cuối cùng là kết thúc đời này. Công việc, học hành, chuyến đi, những mối quan hệ…, có lẽ dài ngắn không thực sự quan trọng. Miễn sao là vui thỏa, là hạnh phúc. Nói như một thiền sư là, hãy sống với cái khe hiện tại. Thôi, còn một đêm dài trên bờ biển nữa, tìm chỗ mắc cái võng đã, chúc em ngủ ngon, Midori – cô gái Japan.

Trích "Trở Lại" - Nguyễn Nhật Lâm. Facebook.com/trolai.vn
 

ontheroad

Phượt thủ
Những câu chuyện dưới đây được viết dựa trên 2 cuốn hồi kí trên đường của tôi hồi năm ngoái! Nếu mọi người thấy không quá nhàm chán, tôi sẽ tiếp tục up.
Tới Kuala Lumpur tôi dành nguyên một ngày đầu tiên cho việc thăm viếng những điểm đến danh tiếng nơi đây. Thành phố này từng là thuộc địa của Anh cả gần thế kỷ, nên đa phần người dân biết tiếng Anh, đấy là lý do để kẻ du khách nghiệp dư như tôi có thể dễ dàng hỏi han đường xá. Mấy đại lộ thênh thang và sạch sẽ dẫn tôi đến quảng trường độc lập, trên cây cột cao trăm thước lá cờ mang ngôi sao mười bốn cánh và những sọc vinh quang ngày đêm phất phới. Phía trước tòa nhà Merdeka là khuôn viên rộng, cỏ xanh trải dài phơi sương trong nắng sớm, mấy hạt sương trễ nải không kịp tan đi bị cơn gió mồ côi thổi lăn lông lốc vỡ òa nơi cuống lá. Nhìn sang bên kia đường có nhà thờ thánh Mary, tường hào trắng muốt tinh khôi đội mái ngói nâu sần, nắng mon men đổ tới lấp đầy ô cửa có vòm cong vút và dài thướt tha. Tập trung vào những điểm nhấn dài thon thả thêm mấy đường cong táo bạo là đặc trưng của kiến trúc Gothic xa xưa. Nếu như ví von tòa nhà Sultan Abdul Samad nom bệ vệ như một chính khách thì giáo đường St. Mary chẳng khác nào một quý cô đài các. Tôi rảo bước về phía bảo tàng lịch sử quốc gia ngắm nghía qua loa rồi bỏ đi, vì tự biết mình không có duyên với mấy chỗ bán vé.

Thánh đường hồi giáo Masjd Jamek không bán vé vào cổng nhưng rõ ràng là cũng không chào đón tôi, mọi cánh cửa dẫn vào bên trong ngôi đền đều im lìm khép chặt. Tôi đi về hướng tòa tháp đôi Petronas danh tiếng. Ở đài phun nước rộng lớn khô quắt rêu phong dưới chân tòa tháp du khách thi nhau chụp hình tanh tách, mọi thứ xung quanh có vẻ cũ kĩ chứ không long lanh lấp lánh như tranh ảnh. Tôi chọn một góc thẳng chính giữa, ngả ba lô ngồi bệt, đôi bàn tay nắm hờ đưa lên mắt làm ống kính, căn chỉnh khẩu độ, lấy bố cục cân đối hết sức, chụp một bức rõ đẹp lưu vào tâm trí. Người ta lấy thước đo tòa tháp rồi thấy nó cao thứ tư trên thế giới, còn tôi nom cứ như một cỗ xe công thức 1 ngoại hạng, ước gì mình có thể “Ki-ai” biến thành khổng lồ như Gát-cô, lao lên chộp lấy vô lăng, cài số, đạp ga lao vút vào không trung. Lão bảo vệ toe toe cái còi kéo tôi ra khỏi mộng tưởng hão huyền, té ra là không phải chỗ nào cũng được ngồi bệt, đúng là nhà to có cái giá của nó.


Kuala Lumpur trời nắng như tháng sáu giữa đồng. Tôi đang ở một công viên nhỏ ngay cạnh tòa nhà Petronas. Ngồi xuống một ghế gỗ vỉa hè, có xác con mèo chết thối giữa lối đi.

Gió bắt đầu mát, mang theo những cảm xúc vừa lạ vừa quen. Nhớ cái cây sắn quả cạnh bờ ao căn nhà cũ, những trưa hè oi ả cứ trèo lên nó, nằm lim dim nghe vài khúc đoạn nhạc vàng rơi rớt từ mấy anh bơm ga bật lửa dạo. Và gió mát ngọt, cái mát gần giống lúc này.

Quay sang tòa tháp đôi thấy bảo vệ bốn năm anh, đi đi lại lại quan sát kĩ lắm, như thể sắp có khủng bố. Tôi ái ngại vì việc sẽ bị ngăn cản lại khi cố tình bước vào bên trong với bộ dạng lếch thếch, nên đang ủ mưu. Đã đến nơi này thì nhất định phải vào đây cái, xem nó đẹp đến cỡ nào, hiện đại đến độ nào, nó cao thứ 4 thế giới kia mà.

Cách đơn giản nhất là ngoại giao, sẽ đến lân la làm quen với một gã, và khi câu chuyện đã lên men thì cứ đường hoàng mà bước vào. Tôi rút cái bật lửa đã theo mình hàng chục ngàn cây số, tiến tới một tay nhìn có vẻ thân thiện nhất.

- Có thuốc không anh bạn, tôi xin điếu, thèm quá mà quanh đây chả có tiệm thuốc nào?

Anh ta cười niềm nở làm tôi vui lây trong vòng 1 giây.

- Tôi không hút thuốc.

Niềm vui mau chóng tắt theo cái quay lưng của gã. Có lẽ thằng này kẹt sỉ, thôi được rồi phương án 2, tôi cũng có thuốc cơ mà. Tôi vòng ra phía một lối vào khác, phía trước có tượng đài phun nước, tìm một gã khác, rút bao thuốc Manboro trắng hôm mua ở Thái Lan ra, tôi cố dơ lên ngang tầm mắt để gã biết mình đang cầm thuốc ngoại.

- Xin lỗi cho tôi xin tí lửa.

Gã này còn khốn nạn hơn, chỉ xua tay không thèm đáp lại. Da ngăm đen chắc cú là gốc Ấn Độ, tôi định vơ đũa cả nắm để chửi rủa cả một dân tộc, kiểu như " tiên sư mấy thằng Ấn Độ", nhưng lại tự xoa dịu mình. Quay đi, tôi châm một điếu, tiếp tục tương kế tựu kế.

Điếu thuốc đầu ngày làm rân ran đầu óc. Bỗng.....

Chết cha, căn bệnh kinh niên (nhiễm khuẩn đường ruột) đột nhiên hành hạ, thi thoảng tôi vẫn bị thế với những điếu thuốc đầu tiên. Tôi nhốn nháo ngang dọc tìm kiếm một nhà vệ sinh công cộng. Khốn khổ ở chỗ hỏi ai cũng lắc đầu, toàn là khách du lịch, tôi lao ra công viên, không có, phi đến một ban công khuất (biết là trong balo có giấy vệ sinh), không được thi thoảng vẫn có người đi lại.

Khuôn mặt bí xị như một kẻ hãm tài, không còn cách nào khác, tôi tiến thẳng vào tòa nhà Petronas, chẳng còn tâm chí đâu mà để ý đến gã ấn độ, ơ hơ, chả có ai cản mình, thật ngu ngốc với chiêu bài ngoại giao.

Tầng một không có, tầng hai cũng chỉ toàn mấy thương hiệu lớn Guci, LX, Mobiado...ko thấy cái chữ WC đâu cả, tầng ba, tầng bốn, đến tầng 8 cũng không.

Tôi hoang mang và bấn loạn, chạy ra ngoài như một thằng ăn cắp, cũng chẳng có ai cản lại, tôi biết chắc ở Time Square có nhà vệ sinh, vì đã từng đi, nhưng đi bộ ra đó cũng phải mất 30 phút, không còn cách nào khác.

Chưa thuộc đường phố, tôi đi theo hướng, cứ nhắm tòa nhà chọc trời màu đỏ mà đi, băng qua đủ các loại building, ngân hàng, cầu vượt, mà tòa nhà cứ mờ ảo, xa vời vợi. Tôi nhớ đến chiêu hồi trẻ con hay làm "Đấm đít củ khoai sáng mai đi ỉa", và bắt đầu vận hành. Hiệu quả, hiệu quả không ngờ, tôi tiếp tục vừa đi vừa đấm, cho đến khi sung sướng nhận ra trước mặt mình là một cái nhà vệ sinh công cộng thứ thiệt.

2 ringit, nhét đồng xu vào lỗ cửa sẽ tự động mở ra, và hết giờ thì khóa cũng hết tác dụng, tôi vội vàng làm theo hướng dẫn, cửa mở ra. Nhà vệ sinh to như một cái cabin xe contener.

Tôi tụt quần, trèo lên bồn cầu tưởng rằng mọi thứ sẽ bắt đầu ngay sau đó thì phía ngoài cửa có tiếng động lạ, vốn cẩn thận, tôi lại nín nhịn ra kiểm tra cửa cho chắc. Khổ, chưa quen với cái hiện đại, cái tự động hóa, nên chẳng thấy an tâm gì.

Khi mọi thứ chuẩn bị bắt đầu thì tôi lại tưởng tượng ra một viễn cảnh tồi tệ, cửa đột nhiên mở ra và một em tóc loăn xoăn da đen xì phang thẳng ánh mắt vào cái bồn cầu, thế thì chết mất, chết vì nhục. Tôi ước gì đang ở Việt Nam, chỉ việc đóng cái then chốt phịch một cái là yên tâm một mình một thế giới, sung sướng biết bao nhiêu.

Ba lần đi kiểm tra cửa thì tôi cũng biết thời gian còn lại chẳng còn bao nhiêu, đành kéo quần xót xa, cũng may là nỗi sợ đã đẩy lùi cơn đau bụng khốn khổ. Thôi, đành phí vài bạc Ringit.

Tôi bước ra ngoài chào em gái trông coi nhà vệ sinh đi về phía tòa nhà màu đỏ mờ mờ ảo ảo. Em cười mờ ám như thể biết được câu chuyện bên trong toilet tự động.

Trích "Trở Lại" - Nguyễn Nhật Lâm. Facebook.com/trolai.vn
 

ontheroad

Phượt thủ
Những câu chuyện dưới đây được viết dựa trên 2 cuốn hồi kí trên đường của tôi hồi năm ngoái! Nếu mọi người thấy không quá nhàm chán, tôi sẽ tiếp tục up.
Suốt chiều đó tôi còn lang thang nhiều nơi loanh quanh thành phố, tiền mua nước suối và vé tàu Skytrain ngốn hết sạch vốn liếng còn lại.

Trong lúc lang thang đi thăm thú, tôi cũng đã kịp nhắm cho mình một chỗ nghỉ qua đêm, dưới chân tòa nhà Maybank gần khu phố Tàu, nơi có nhiều người mang khuôn mặt khắc khổ như mặt nguyệt trong đêm u ám. Hóa ra những người vô gia cư ở mỗi nơi cũng có nếp ngủ khác nhau. Nếu như ở Bangkok, họ nằm dài trên khắp những vỉa hè, góc phố gầm cầu, lấy ba lô túi xách làm gối đầu, mảnh bao, tờ báo làm chiếu, và áo quần khố khăn làm mùng mền che sương chắn muỗi thì ở Kuala Lumpur, họ chỉ ngủ ngồi gục trên bọc hành lý sồ sề phó mặc cho sự tiều tụy tột cùng thống trị cả kiếp người. Nhập gia thì phải tùy tục, tuy nhiên thích sự hoành tráng, tôi chọn một góc thoáng mát trên bục thềm cao nhất ngồi chắp bằng bệ vệ, ngắm nhìn những số phận bên lề cao ốc nguy nga tráng lệ. Phút giây tôi thấy mình cứ như bang chủ cái bang, chỉ thiếu có đả cầu bổng pháp nữa là hoàn hảo.

Ngày mai chẳng còn một xu để mua nước, nếu tôi không nghĩ ra được phương án nào hay ho thì có lẽ sẽ phải dùng đến gói mì tôm và bịch sữa mà anh Boy cho hôm ở Bangkok. Moi móc mãi trong mớ trí khôn, trước lúc lịm vào trong giấc ngủ ngồi, tôi cũng có một chiêu hấp dẫn, phải cám ơn người Trung Quốc mưu cao kế dầy đã cho tôi bài học ấy. Hôm ở Quảng Châu, khi vừa bước chân khỏi tiệm ăn Kungfu tôi thấy có gã trai trắng trẻo hồng hào vai đeo ba lô nhìn rất thư sinh, hắn ngồi xổm cắm mặt xuống đất phía trước có tờ giấy A4 ghi mấy chữ tiếng Tàu và vài đồng bạc tiền tệ, tôi chỉ biết nghe nói chứ không biết chữ, hỏi một người qua đường đọc giùm mới hay trên giấy viết: “Tôi bị lạc đường và mất hết tiền lại không biết tiếng, giờ đang rất đói, xin rủ lòng thương cho tôi vài đồng bạc lẻ. ” Ông này sau khi giúp tôi đọc xong còn nói với theo, không phải cho tiền đâu, lừa đảo đấy, trò này quen rồi. Tôi ngẫm nghĩ vài giây rồi vẫn thả xuống cho cu cậu mấy hào lẻ, chỉ vì thấy thú vị chứ không hề thương xót. Đâu có ngờ là sự cho đi của ngày hôm đó cũng có ngày nhận lại, tôi có nhã ý sử dụng chiêu này vào ngày mai.

Thế là sáng hôm sau, tôi giật hai trang giữa của cuốn nhật ký còn trống, ghi mấy dòng rõ to, y như chú Tàu bữa trước, chỉ bỏ đi ba chữ “rủ lòng thương” vì không biết dịch sang tiếng Anh. Tôi bày đồ nghề ra trước cửa bến xe trung tâm ngay gần khu phố Tàu và đợi chờ phản ứng của dư luận. Chiêu thức này có lẽ quá mới lạ và thâm sâu ở đây, người Malaysia là hiền lành chất phác nên hiệu quả đến không ngờ. Tôi cứ cúi gằm mặt giả câm giả điếc trước đám người vây quanh mỗi lúc một nhiều, người thì đoán tôi đi du lịch bị lạc đoàn, mấy gã tranh cãi xem tôi là người Thái Lan hay Hàn Quốc, mấy cô gái da nâu chắc gốc Ấn Độ xì xèo khen tôi đẹp trai, mấy bà già thì bảo đáng thương, họ thả những đồng tiền Ring lã chã xuống tấm giấy trước mặt. Tôi chỉ biết tiền rất nhiều mà không dám vơ lại cho gọn gàng, mãi đến gần trưa, khi khách bộ hành qua lại đã vãn, tôi mới dám gom tiền lại nhét vào ba lô, cả hai nắm tiền lẻ. Đến một góc khuất trong khu phố Tàu tôi mở ra đếm và bàng hoàng nhận ra, ăn xin là một nghề hốt bạc, mỗi buổi sáng mà kiếm được 60 Ring (gần 20 USD) thì có mà nhân viên văn phòng ở Việt Nam cũng chả dám mơ.

Ghé một quán ăn bình dân, tôi gọi một bọc hủ tiếu khô và ly cà phê, tính tiền mới chỉ có 2 Ring, mà chả hiểu sao từ đó cái mặt tôi cứ cúi gằm xuống, không sao ngước lên được. Tôi nghĩ đến việc chuyển địa bàn làm ăn trong buổi chiều với hi vọng có thể ngay ngắn khuôn mặt lên một chút. Và, tuy không màu mỡ như ban sáng nhưng tôi vẫn kiếm được 50 Ring, có điều tầm nhìn cứ chỉ luẩn quẩn ở bàn chân. Tối trở về chỗ ngủ ở Maybank, tôi không sao mà ngồi được cái vẻ bệ vệ của bang chủ cái bang như đêm qua, chỉ biết cắm mặt đầu gối, tiều tụy như chính họ. Vậy vấn đề không phải địa điểm, mà là việc làm. Suốt một đêm trằn trọc, chẳng có ý tưởng nào cho công việc mới nhưng dẫu sao tôi cũng đã quyết định từ bỏ việc kia.

Hôm sau dậy từ rất sớm, tôi đảo qua phố phường mà chẳng tìm thấy công trình xây dựng nào dang dở, thất thểu trở về khu phố Tàu để kiếm bữa trưa ngon bổ rẻ thì một ý tưởng vĩ đại lóe lên, bắt đầu từ anh chàng khâu sửa giày dép dưới chân trung tâm thương mại.

Khi xưa, lúc còn là “doanh nhân trẻ” tôi có đôi giày đen bóng đến nỗi có thể soi gương. Tôi chẳng bao giờ để cho mấy cậu đánh giày ngoài phố động vào đôi giày vì sợ chất lượng xi của chúng không tốt sẽ làm hư mất cái thương hiệu bạc triệu của mình. Thế là sáng nào cũng vậy, trước khi ra khỏi nhà là tôi lại ôm cái bàn chải, chà cho bóng lộn đôi giày, đến khi nào soi gương được mái tóc vuốt keo cũng bóng lộn mới thôi. Làm miết thành ra có nghề, thế nên nhìn thấy cậu khâu dép tôi lập tức nghĩ đến việc sẽ hành nghề đánh giày ở đây. Đồ nghề phụ kiện thì quá đơn giản rồi, với 30 Ring là tôi đã sắm đủ một giỏ nhựa, một đôi dép cho khách, xi và bàn chải.

Từ đó tôi gửi ba lô ở một quán trọ bình dân, tối về đó tắm rửa rồi lại ra Maybank hoặc Timesquare ngủ, ngày xách giỏ chinh chiến ngang dọc khắp phố phường Kuala Lumpur. Cái nghề chả có gì mới mẻ cơ mà lại độc quyền ở xứ này nên kiếm miếng ăn cũng dễ. Tuy không bằng quỷ kế ăn xin nhưng cái mặt tôi được ngưỡng thiên nên thoải mái vô cùng.

Một ngày, tôi kiếm được một ông khách VIP tại quán cà phê sang trọng dưới chân toà nhà BB Plaza. Ông trả tôi 5 Ring mà không cần thối lại, giá của tôi chỉ có 2 Ring một đôi. Sự hào phóng đó thôi thúc tôi làm quen với ông. Câu chuyện tôi kể hấp dẫn đến mức ông phải mời tôi về căn biệt thự trên núi của mình để rồi sau đó cuốn nhật ký của tôi lại thêm đầy ắp những trang thú vị.

Ông John đưa tôi đến một nơi cách trung tâm thủ đô Kuala Lumpur chưa đầy sáu chục cây số, cao nguyên Genting đẹp như cõi tiên vậy. Ông nói nơi đây cao hơn mực nước biển hai nghìn mét, núi đồi và rừng già xanh mướt đường đi. Lên tới đỉnh cao nguyên, sương mù lởn vởn quanh bánh chiếc Mercedes E240 của chúng tôi. Nhìn xuống mênh mang là núi đồi, rừng rậm.

Ông đưa tôi vào bên trong khu mua sắm, vui chơi giải trí, có Casino. John hướng dẫn tôi chơi trò Roullete. Trò này không khác gì Lô tô ở Việt Nam, hồi còn đi học ở đại học Ngoại thương, tôi, Chiến và thầy giáo trưởng khoa toán còn lập một phép tính vui về bài toán vốn cho chơi Lô tô theo nguyên lý xác suất thống kê. Nguyên lý rất đơn giản, thắng thì trở về mốc đặt cược ban đầu, thua thì tăng gấp đôi số tiền đặt cược. Xác suất để thua mười lần liên tiếp là rất nhỏ, coi như bằng không vì thế nếu đặt cược 2 USD, thì vốn cần chuẩn bị đề phòng rủi ro là hai mũ mười, tức là khoảng 1000USD.

Ông thấy có lý nên gật gù nghe theo tôi, chỉ định chơi cho vui, ai dè sau hai tiếng đồng hồ chúng tôi lãi 200 USD. Ông đưa cho tôi toàn bộ số tiền thắng, nói là đó là công của tôi, và rằng lấy làm kinh phí đi đường.

Đưa tôi trở lại Kuala Lumpur, theo sự chỉ dẫn của ông, tôi nên đến Johor Bahru rồi sang Singapore rất dễ. Singapore trong sự tưởng tượng xưa kia của tôi là một nơi xa lắm, cứ như Mỹ vậy, không phải vì khoảng cách địa lý mà vì sự phồn thịnh của nó. Không ngờ giờ tôi lại gần nó đến thế, chỉ có hai chuyến xe bus, chắc chắn là tôi phải đi. John trở lại công việc, sau khi đưa tôi tới bến xe với bao lời chúc phúc.

Trích "Trở Lại" - Nguyễn Nhật Lâm. Facebook.com/trolai.vn
 

ontheroad

Phượt thủ
Những câu chuyện dưới đây được viết dựa trên 2 cuốn hồi kí trên đường của tôi hồi năm ngoái! Nếu mọi người thấy không quá nhàm chán, tôi sẽ tiếp tục up.
Cậu khâu giày ở khu phố Tàu giúp tôi sửa soạn lại ba lô của mình, nó lại chắc chắn như ngày đầu tiên đi cùng tôi ở cửa khẩu Móng Cái, chỉ có điều thêm vài vết sần xước không thể lành lại như da thịt con người.

Tôi mất 40 Ring để được tới Johor Bahru, thủ phủ của miền Tây Nam bán đảo này, Malaysia bị chia cắt bởi biển Đông, phía bên kia tiếp giáp với Indonesia và Brunei, tôi hi vọng sẽ sớm tới đó để được trầm mình xuống dòng nước xanh ngăn ngắt của con sông Melinau dẫn vào những hang động kì vĩ bậc nhất châu lục và thế giới.

Tại đây, tôi được một người bạn của John đón tiếp hết sức chu đáo. Ông chở tôi trên chiếc Mercedes S500 quí tộc, đưa tôi đi ăn những nhà hàng Ấn Độ sang trọng, thăm những ngôi đền Hindu thờ đủ các loại thánh thần. Khi đến một bến tàu, nơi bờ sông tiếp giáp với Singapore, ông đã chụp cho tôi một bức hình lưu niệm, có cánh chim sải cánh ngang qua đầu, rõ đẹp.
Chẳng có gì đặc biệt lưu giữ tôi ở lại với thành phố này, người bạn già hiếu khách đưa tôi ra bến xe bus để tới xứ sở mơ ước bấy lâu. Cái ôm tạm biệt xao xuyến tim gan kẻ độc hành.

Tôi chưa từng gặp trở ngại với hải quan trong suốt thời gian trên đường, có chăng chỉ là mấy câu hỏi vặt vãnh nằm trong vốn ngoại ngữ của mình. Tuy đã được cảnh báo trước khi nhập cảnh Singapore nhưng tôi vẫn không tránh khỏi phiền phức.

Cây cầu dài dẫn tôi đến với cửa khẩu Singapore, sạch sẽ và hiện đại là ấn tượng đầu tiên về mảnh đất này, con đường lớn nối liền hải quan hai nước, xe cộ giao thông tấp nập như Sài Gòn giờ cao điểm. Có sự háo hức đang dâng lên nghẹn ngào.

Tờ khai hải quan với những câu hỏi đã quen mòn mắt nên chẳng khó khăn để tôi hoàn thành. Có anh da nâu, to con hộ chiếu Singapore nhường tôi xếp hàng trước. Đối diện với tôi là một nữ hải quan rất trẻ, xinh đẹp, vẻ đẹp Trung Hoa. Có lẽ vì thế mà tôi hơi bối rối khi em hỏi tôi sẽ ở đâu trên đường Bugis, thực ra tôi chỉ thấy người bên cạnh mình khai nơi đến là Bugis thì bắt chước chứ có biết địa danh nào ở Singapore đâu. Lần đầu tiên nhập cảnh nước này, người ta cần phải thẩm vấn tôi kỹ hơn, nên tôi đi theo một nhân viên hải quan khác, lên tầng năm tòa nhà. Căn phòng nhỏ có khoảng hơn chục người đang chờ đợi, camera soi mói khắp nơi làm tôi thấy hơi mất bình tĩnh, đành mỉm cười tự trấn an. Tôi tự trách mình phiêu bạt khắp nơi chưa một lần run rẩy mà nay lại mất bình tĩnh ở chốn này.

Họ lại đưa tôi vào một phòng riêng, lấy dấu vân tay, nữ hải quan khác động viên tôi bình tĩnh, sợ đánh mất chính mình, tôi gượng cười khen: “Em đẹp lắm!” Đến phiên em đỏ mặt, tôi lên ngôi.

Vòng thẩm vấn cuối cùng, vẫn là một cô gái xinh đẹp, tôi nghĩ để được vào làm ở đây, chắc họ phải trải qua cả phần thi nhân trắc học.

- Anh ở đâu trên đường Bugis?
- Một khách sạn nào đó, bạn tôi nói dễ dàng kiếm một khách sạn ở đây.
- Một khách sạn lớn hay nhỏ?
- Nhỏ thôi, tôi không nhiều tiền như em nghĩ.
- Anh ở Singapore mấy ngày?
- Trước một tháng, chắc chắn vậy rồi.
- Ở Việt Nam anh làm nghề gì?
- Nhà văn - tôi trả lời hoàn toàn ngẫu hứng.
- Anh viết gì thế?
- Tiểu thuyết tình yêu.
Cô gái cười tươi lắm, rồi hỏi tiếp:
- Anh mang theo bao nhiêu tiền?
- Thế đủ chưa? - Tôi rút hai tờ 100USD mới cứng.
Thấy mặt cô có vẻ chưa được thỏa mãn, tôi lôi cái thẻ Visa (không đồng trong tài khoản):
- Tôi còn thẻ tín dụng nữa.
- Anh sẽ đi đâu tiếp theo?
- Sumatra - Indonesia.
- Cảm ơn anh đã hợp tác, chúc anh hành trình thú vị!

Cầm hộ chiếu có con dấu nhập cảnh Singapore, nó to bản, vuông vức, xanh như màu hi vọng, lòng vui sướng lạ thường. Tôi đang ở Singapore, tôi chỉ muốn hét thật to như thế, để vọng đến quá khứ, để thằng tôi của bảy năm trước biết rằng nó có thể đến, bằng việc bắt đầu đi. Lên đường thôi nào.

Trích "Trở Lại" - Nguyễn Nhật Lâm. Facebook.com/trolai.vn